Chương I TỔNG QUAN luan an 1. Khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường typ 2 1. Khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa * Khái niệm: Những thập niên đầu của Thế kỷ XX, các nhà khoa học đã phát hiện ở một nhóm người ít lao động chân tay, những người có công việc liên quan nhiều đến nghiên cứu sách vở, những người thường có các bữa ăn thừa năng lượng thường biểu hiện béo phì, tăng huyết áp và bệnh lý tim mạch. Các mô tả về sau đã làm rõ hơn về các phối hợp của béo phì, tăng huyết áp, tăng glucose máu, bệnh gout và các bệnh lý tim mạch khác.
Năm 1988, Reaven Gm báo cáo một sự phối hợp của nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như tăng huyết áp, giảm HDL-C, tăng VLDL, tăng triglycerid, nồng độ insulin lúc đói cao và giảm dung nạp glucose và Ông sử dụng thuật ngữ “Hội chứng X” để mô tả các dấu hiệu bất thường này, Reaven Gm đã có nhiều đóng góp trong lịch sử nghiên cứu Hội chứng chuyển hóa [ 13]. Các nhà khoa học cho thấy các yếu tố phối hợp ở trên là thực sự có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Với mỗi tác giả, nhóm tác giả, tùy theo mục đích nghiên cứu của mình đã đưa ra tên gọi khác nhau như Hội chứng chuyển hóa (Metabolic syndrome), Hội chứng kháng insulin (Insulin resistance syndrome), Hội chứng rối loạn chuyển hóa (Dysmetabolism syndrome). Năm 1998, Tổ chức Y tế thế giới đã thống nhất tên gọi là Hội chứng chuyển hóa và cho đến nay thuật ngữ Hội chứng chuyển hóa (HCCH) đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới.
HCCH được định nghĩa là một nhóm các rối loạn liên quan đến chuyển hóa các chất bao gồm rối loạn lipid máu, béo bụng, tăng huyết áp và rối loạn glucose máu khi đói [14], [15]. * Tiêu chuẩn chẩn đoán: luan an Hiện nay có khá nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH tùy theo quan điểm về cơ chế bệnh sinh, mục đích dự phòng, mỗi tổ chức đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH có những điểm khác nhau. Đầu tiên, nhóm chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dựa trên định nghĩa của Reaven Gm đã chính thức đưa ra một khái niệm mới về HCCH với tiêu chuẩn chẩn đoán cụ thể. Sau đó, nhóm nghiên cứu về kháng insulin của Châu Âu (EGIR), Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia Mỹ, kênh điều trị cho người lớn (NCEP ATP III) năm 2001 và cập nhật năm 2005, Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) cũng đưa ra tiêu chuẩn của riêng của mình [16],[17].
Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế thế giới (World health Oganisation – WHO) [16]: yêu cầu có tiêu chuẩn bắt buộc là kháng insulin và các tiêu chuẩn phụ gồm tăng huyết áp, béo phì, rối loạn lipid máu và có microalbumin niệu. Chẩn đoán HCCH khi có ít nhất một tiêu chuẩn bắt buộc và từ 2 tiêu chuẩn phụ trở lên. Tiêu chuẩn chẩn đoán của Chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol/Phiên bản 3 điều trị cho người trưởng thành (National Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel III - NCEP ATP III) [17]: Có 5 yếu tố gồm tăng glucose máu, béo bụng, tăng triglycerid, giảm HDL-C, tăng huyết áp. Chẩn đoán HCCH khi có từ 3 yếu tố trở lên trong 5 yếu tố trên.
Năm 2005, tiêu chuẩn HCCH của ATP III đã được cập nhật. Tiêu chuẩn vòng eo đã được điều chỉnh phù hợp với từng quốc gia, từng khu vực. Hạ ngưỡng rối loạn glucose máu lúc đói xuống còn 5,6 mmol/L (100 mg/dl). Các yếu tố gồm đã được chẩn đoán ĐTĐ, điều trị rối loạn lipid và điều trị tăng huyết áp được coi là một trong các yếu tố của HCCH.
Tiêu chuẩn chẩn đoán của nhóm nghiên cứu về kháng insulin Châu Âu (European group for the study of insulin resistance - EGIR) [ 18]. Tiêu chuẩn bắt buộc có kháng insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc đói. Tiêu luan an chuẩn phụ gồm tăng glucose máu, tăng huyết áp, tăng triglycerid, giảm HDL-C và tăng vòng eo. Chẩn đoán HCCH khi có tiêu chuẩn bắt buộc và có từ 2 tiêu chuẩn phụ trở lên.
Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (American Association of Clinical Endocrinologist/ American College of Endocrinology – AACE/ACE) [19]. Ngoài các yếu tố như tăng glucose máu, tăng huyết áp, tăng triglycerid, giảm HDL-C và thừa cân béo phì thì các yếu tố có tính chất tham khảo như tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ typ 2, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, có hội chứng buồng trứng đa nang, hoặc lối sống tĩnh tại, tuổi cao trên 40, hoặc trong ở nhóm người có nguy cơ cao giống như người mắc bệnh ĐTĐ. Tiêu chuẩn chẩn đoán của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (International Diabetes Federation – IDF) [14]. Tiêu chuẩn bắt buộc là phải có béo phì trung tâm.
Tiêu chuẩn phụ gồm tăng glucose máu, tăng huyết áp, tăng triglycerid, giảm HDL-C. Chẩn đoán HCCH khi có tiêu chuẩn bắt buộc và có từ 2 tiêu chuẩn phụ trở lên. Như vậy, trong các tiêu chuẩn chẩn đoán của HCCH thì định nghĩa của WHO rất tốt trong việc xác định các rối loạn chuyển hoá. Tuy nhiên, định nghĩa này đòi hỏi phải làm nghiệm pháp tăng đường huyết và các test kháng insulin nên rất khó áp dụng rộng rãi đặc biệt đối với các nghiên cứu triển khai tại cộng đồng.
Tiêu chuẩn của EGIR cần có tiêu chuẩn bắt buộc là kháng insulin, tiêu chuẩn của IDF cần có tiêu chuẩn bắt buộc là béo trung tâm, tiêu chuẩn của AACE thì nhấn mạnh vai trò của đánh giá lâm sàng trong chẩn đoán HCCH. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH thường được sử dụng hơn trong các nghiên cứu là của WHO, NCEP và IDF. Tuy nhiên, việc có nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau về HCCH được sử dụng dẫn đến khó khăn khi so sánh tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố ảnh hưởng giữa các khu vực. luan an Năm 2009, thống nhất chung các tiêu chuẩn của các tổ chức gồm Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), Viện Tim, Phổi, Máu quốc gia (National Heart Heart, Lung, and Blood Institute – NHIBI); Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association – AHA); Liên đoàn Tim mạch thế giới (World Heart Federation – WHF); Hội xơ vữa động mạch Quốc tế (International Atherosclerosis Society – IAS) và Hiệp hội Quốc tế nghiên cứu về béo phì (International Association for the Study of Obesity – IASO) các tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH bao gồm 3 trong 5 yếu tố gồm vòng eo, triglycerid, HDL-C, huyết áp và glucose máu.
Béo bụng không phải là yếu tố tiên quyết để chẩn đoán HCCH nhưng nó là 1 trong 5 yếu tố và có giá trị sàng lọc ban đầu hữu hiệu. Các số liệu trong cả nghiên cứu dọc và nghiên cứu ngang đã chỉ ra mối liên quan của vòng eo với bệnh mạch vành và ĐTĐ typ 2. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH được dựa vào (bảng 1.1) và tiêu chuẩn vòng eo khác nhau ở giới và quần thể dân cư ở bảng 1. Các yếu tố chẩn đoán hội chứng chuyển hóa Yếu tố Giá trị Vòng eo cao Theo quần thể dân cư Triglycerid cao (hoặc đang điều trị ≥ 150 mg/dl (1,7 mmol/L) triglycerid máu cao bằng thuốc) HDL-C thấp (hoặc đang điều trị Nam: < 40 mg/dl (1,0 mmol/L) HDL-C thấp bằng thuốc) Nữ: < 50 mg/dl (1,3 mmol/L) Tăng huyết áp (có tiền sử tăng huyết Tối đa: ≥ 130 mmHg áp hoặc đang điều trị bằng thuốc) Tối thiểu: ≥ 85 mmHg Tăng glucose lúc đói (hoặc đang ≥ 100 mg/dl (5,6 mmol/L) điều trị tăng glucose bằng thuốc) Bảng 1.
Tiêu chuẩn xác định béo bụng theo vòng eo của các tổ chức theo quần thể dân cư luan an Quần thể Tổ chức đề Ngưỡng vòng eo cao (cm) xuất Nam Nữ Gốc Châu Âu IDF ≥ 94 ≥ 80 Người da trắng WHO ≥ 94 (tăng nguy cơ) ≥ 80(tăng nguy cơ) ≥ 102 (nguy cơ cao) ≥ 88 (nguy cơ cao) Mỹ AHA/NHLBI ≥ 102 ≥ 88 (ATP III)* Canada Health ≥ 102 ≥ 88 Canada Châu Á (bao IDF ≥ 90 ≥ 80 gồm Nhật Bản) WHO Nhật Bản Hiệp hội béo ≥ 85 ≥ 90 phì Nhật Bản Trung Quốc Cooperative ≥ 85 ≥ 80 Task Force Trung Đông Địa Trung Hải IDF ≥ 94 ≥ 80 Cận Sahara Châu Phi Nam Mỹ và IDF ≥ 90 ≥ 80 Trung Mỹ * Gần đây, AHA/NHLBI hướng dẫn tăng xác định nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường ở hội chứng chuyển hóa nên để ngưỡng vòng eo ≥ 94 cm đối với nam và ≥ 80 cm đối với nữ và xác định đây là điểm cắt tùy chọn cho mỗi cá nhân và quần thể có tăng đề kháng insulin 1. Khái niệm, tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường typ 2. * Khái niệm: Theo Tổ chức Y tế thế giới 2002: ĐTĐ là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu. Tăng glucose máu gây tổn thương nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt mạch máu và thần kinh [5].
luan an Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ [20]: ĐTĐ hay còn gọi là tiểu đường là một tình trạng mạn tính xảy ra khi có tăng glucose trong máu do không sản xuất insulin hoặc sản xuất không đủ hoặc việc sử dụng insulin không hiệu quả. * Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ typ 2. - Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ typ 2 hiện nay, được Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ kiến nghị năm 1997 và được nhóm các chuyên gia về bệnh ĐTĐ của Tổ chức Y tế thế giới công nhận vào năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999 [21]. Bệnh ĐTĐ typ 2 được chẩn đoán khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau: + Một mẫu glucose huyết tương bất kỳ ≥11,1 mmol/L (200 mg/dl) kết hợp với các triệu chứng của đái tháo đường.
+ Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/L (126 mg/dL). + Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/L (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau uống 75 gram glucose (loại anhydrous) hoặc 82,5 gram glucose (loại monohydrat) nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống. Nếu không có triệu chứng tăng đường huyết hoặc mất bù chuyển hóa cấp tính thì phải lập lại xét nghiệm một lần nữa. - Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA (Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ) năm 2017; khi có 1 trong các tiêu chuẩn sau [22]: + Đường huyết tương bất kỳ ≥11,1 mmol/L kèm theo các triệu chứng của tăng đường huyết (khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, gầy sút).
+ Đường huyết tương lúc đói (nhịn ăn >8-14 giờ) ≥ 7 mmol/L trong 2 buổi sáng khác nhau. + Đường huyết tương 2 giờ sau khi uống 75 g glucose ≥ 11,1 mmol/L (nghiệm pháp tăng đường huyết). luan an + HbA1c (định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng) ≥ 6,5%.