CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN HỌC VĂN HÓA 1. Khái niệm Nhân học văn hóa. Khái niệm Nhân học và Nhân học văn hóa. Để hiểu về khái niệm Nhân học văn hóa, trước hết ta cần phải hiểu về khái niệm Nhân học.
Nhân học được dịch từ từ anthropology trong tiếng Anh. Về mặt từ nguyên học, anthropology có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, được ghép bởi hai từ anthropos nghĩa là con người và logos nghĩa là học vấn, ghép lại anthropology có nghĩa là khoa học nghiên cứu về con người. Tóm lại, Nhân học một là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất con người trên các phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm người, các cộng đồng dân tộc khác nhau, cả về quá khứ con người cho tới hiện nay. Khoa học về con người, nghiên cứu về bản chất con người, xã hội loài người và lịch sử loài người, cơ bản gồm hai lĩnh vực chính.
Một là nghiên cứu con người về mặt tự nhiên gọi là Nhân học tự nhiên và một nghiên cứu con người về mặt văn hóa xã hội. Lĩnh vực thứ hai này được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mỗi trường phái nghiên cứu: trường phái Đức – Áo gọi đây là Dân tộc học (ethnology), trường phái Anh gọi là 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhân học xã hội (social anthropology) và trường phái Mỹ gọi là Nhân học văn hóa (cultural anthropology). Như vậy là khái niệm Nhân học văn hóa xuất hiện và được phổ biến nhờ các nhà nghiên cứu theo trường phái Mỹ. Thực tế, trường phái Mỹ phân loại nhân học thành bốn lĩnh vực là Nhân học tự nhiên, Nhân học văn hóa, Khảo cổ học và Nhân học ngôn ngữ.
Nhân học tự nhiên (physical anthropology) dựa vào các đặc trưng của cơ thể như màu da, màu mắt, màu tóc, hình dáng, tỷ lệ, kích thước của các bộ phận cơ thể như chiều cao, nhóm máu. để so sánh và phân loại nhân chủng, khảo sát mối quan hệ hệ thống giữa nhân chủng, phân tích những biến đổi đặc tính di truyền và chức năng do ảnh hưởng của môi trường. Nhân học tự nhiên nghiên cứu loài người ở khía cạnh sinh học, chú trọng vào các mặt tiến hóa, biến dị, thích nghi, vì thế rất gần gũi, thậm chí có phần giao thoa với các ngành như sinh vật, y học, và gần đây tiếp cận với cả sinh thái học. Có thể nói, Nhân học tự nhiên liên quan sâu xa với thuyết tiến hóa, còn về mặt chuyên môn nó gần gũi với khảo cổ học.
Khảo cổ học (prehistoric archaeology) là ngành khai quật các di tích để nghiên cứu thời đại tiền sử, điều tra xã hội và văn hóa quá khứ thông qua việc khôi phục và giải thích các di vật, sản vật và bối cảnh vật chất trong đó chúng được lưu giữ. Khi Khảo cổ học tập trung vào nghiên cứu xương người phát hiện được từ các di tích, nó trở nên gần gũi với Nhân học tự nhiên, vì thế nó được tách ra khỏi sử học và xếp nó vào lĩnh vực của nhân học. Nhân học ngôn ngữ (linguistic anthropology) lại nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, nhưng khác với ngôn ngữ học, nhân học ngôn ngữ quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ được được sử dụng như thế nào trong quan hệ xã hội, nói cách khác là quan tâm đến những vấn đề xoay 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quanh ngôn ngữ nằm trong bối cảnh xã hội chứ không phải ngôn ngữ với tính cách là một hệ thống trừu tượng các quy luật và quan hệ. Cũng trong hệ thống phân loại của trường phái Mỹ, Nhân học văn hóa được định nghĩa là khoa học nghiên cứu văn hóa, xã hội của các dân tộc trên trái đất trên cơ sở coi văn hóa là yếu tố thuyết minh sự tồn tại và phương thức hành động của con người, ảnh hưởng lớn đến bản chất người, xã hội và lịch sử loài người, ba lĩnh vực đối tượng của Nhân học.
Ở đây, cũng cần chú ý đến khái niệm “văn hóa” được sử dụng trong thuật ngữ “Nhân học văn hóa”. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta hay hiểu “văn hóa” mang hàm nghĩa kết hợp với việc đánh gia tích cực, chính thống và quyền uy. Tuy nhiên “văn hóa”, trong vai trò là đối tượng nghiên cứu của Nhân học văn hóa, bao gồm tất cả những gì tạo thành một “phức thể toàn diện”, con người “thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”, có nghĩa kể cả những thứ không phải đối tượng bảo tồn hoặc bị xem là “không có vẻ văn hóa”. Nói cách khác, trong Nhân học văn hóa, thuật ngữ “văn hóa” được đề xuất như một khái niệm không liên quan đến việc đánh giá về mặt giá trị, ví dụ trong định nghĩa của Geertz về con người và văn hóa: “Con người là động vật sống dựa vào những mắt võng do chính mình dệt nên, và văn hóa chính là những mắt võng này”.
Như vậy là, Nhân học văn hóa nghiên cứu các nền văn hóa khác nhau để tìm ra những nét phổ biến nhất của văn hóa loài người, nhưng mục đích cuối cùng không phải là tìm hiểu văn hóa mà là bản chất con người được phản ánh qua văn hóa, giải đáp cho câu hỏi đã, đang và sẽ còn đeo đuổi loài người mãi mãi, đó là “con người là gì?”. Trong cuốn sách Giới thiệu Nhân học văn hóa, Lowie đã đưa ra định nghĩa “Mục tiêu chung của nghiên cứu nhân học là để hiểu toàn bộ nền văn hóa mọi thời đại và để tìm hiểu mỗi thành phần nhỏ bé trong mối liên hệ với tổng thể” [20, 8]. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đi ngược trở lại lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học này, chúng ta sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về vai trò và ý nghĩa của Nhân học văn hóa. Nguồn gốc hình thành Nhân học văn hóa là từ triết lý “hiểu người biết ta” của các nhà khoa học châu Âu từ thế kỷ XII, XIII.
Lúc này, kỹ thuật đường thủy phát triển và các nhà thám hiểm châu Âu đã chinh phục được nhiều vùng đất mới ngoài châu Âu, đặc biệt thế kỷ XV, Columbus đã phát hiện ra châu Mỹ. Những đoàn thám hiểm này đã mang về cho người châu Âu rất nhiều thông tin cụ thể về những vùng đất hoàn toàn mới lạ trong hiểu biết vốn có của họ. Chính những cuộc gặp gỡ với các dân tộc “khác ta” đó đã đặt ra cho người châu Âu câu hỏi “Con người là gì?” và người ta đã tìm câu trả lời bằng việc nghiên cứu những nền văn hóa của các vùng đất và các dân tộc ngoài châu Âu mà họ cho rằng đó chính là hình ảnh nguồn gốc cổ xưa của loài người. Trên thực tế, những nhà nghiên cứu châu Âu đã nhận thức sai lệch về các nền văn hóa bản địa khi cho rằng đó là những nền “văn hóa bán khai”, nhưng dù sao, việc nghiên cứu về các nền văn hóa của con người ở các vùng đất mới đã tạo tiền đề cho ngành Nhân học văn hóa sau này.
Nhân học văn hóa dần dà được hình thành cho đến giữa thế kỷ XIX nhưng việc nghiên cứu những nền văn hóa “khác ta” lại chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu lịch sử tự nhiên. Trong thời kỳ này, tác phẩm Nguồn gốc các loài, học thuyết Tiến hóa của Darwin ra đời đã tác động rất mạnh đến sự phát triển của nhân học, là cơ sở hình thành nên Nhân học văn hóa sau này. Tuy nhiên, các nhà khoa học châu Âu đã mắc phải sai lầm khi đồng nhất giữa tiến hóa sinh vật với quá trình biến đổi và sự đa dạng về văn hóa, bởi lẽ họ coi sự khác nhau giữa các dân tộc không phải là sự đa dạng về văn hóa của con người mà chỉ là các giai đoạn văn hóa phát triển cao – thấp khác nhau và văn hóa châu Âu chính là bước phát triển cao nhất của văn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa còn các nền văn hóa bản địa đang ở những bước phát triển thấp hơn. Chính sai lầm này đã dẫn tới sự sụp đổ của các Thuyết Tiến hóa xã hội hay Thuyết Truyền bá văn hóa.
Sau đó, những nghiên cứu này bị phê phán là “nhân học ghế bành” (armchair anthropology) vì những nghiên cứu văn hóa đơn thuần dựa trên những suy luận lý thuyết từ việc phân tích, phân loại các thông tin có sẵn do các nhà thám hiểm thu thập, mang về, mà không mang tính thực chứng. Tuy vậy, chính những nền tảng đó đã dần dần hình thành nên hình hài hoàn thiện cho Nhân học văn hóa. Nhân học văn hóa hiện đại, được xác định là một ngành khoa học nghiên cứu so sánh văn hóa và cộng đồng, là khoa học về con người nhằm khái quát hóa tư cách, hành vi của con người và khả năng hiểu được đầy đủ nhất sự đa dạng của loài người. Những vấn đề chủ yếu của nghiên cứu Nhân học văn hóa gắn liền với việc hình thành con người như một hiện tượng văn hóa đặc biệt: sự văn hóa hóa các bản năng cơ bản của con người; sự xuất hiện thể tạng đặc biệt của loài người, kết cấu cơ thể con người trong mối liên quan với môi trường văn hóa; cách ứng xử của con người, sự hình thành các chuẩn mực, các cấm đoán và kiêng kị trong quá trình con người hòa nhập vào hệ thống các quan hệ văn hóa xã hội; ảnh hưởng của văn hóa đến cuộc sống giới tính, gia đình và hôn nhân; sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan của con người.
Tổng quát lại, Nhân học văn hóa là một ngành khoa học tổng hợp về con người, nghiên cứu lịch sử văn hóa, xã hội loài người, dựa trên cơ sở coi văn hóa là yếu tố tác động mạnh mẽ đến bản chất con người. Nói cách khác, đây là ngành khoa học nghiên cứu về bản chất con người thông qua văn hóa. Phương pháp nghiên cứu của Nhân học văn hóa. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tính tổng hợp của Nhân học văn hóa không chỉ thể hiện ở nội dung bao hàm các lĩnh vực rộng lớn mà nó quan tâm nghiên cứu mà còn thể hiện ở cách tiếp cận tổng thể trong các phương pháp nghiên cứu của ngành khoa học này.
Dưới đây là những phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất của Nhân học văn hóa: 1. Quan sát tham gia – phương pháp đặc trưng của Nhân học văn hóa.