Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan ñến luận án 1. Khái niệm về ñất Đất là một vật thể tự nhiên ñộc lập, có những quy luật phát sinh, phát triển riêng theo không gian và thời gian như các thể tự nhiên khác. Theo Đô-cu-chaev (1879) cho rằng: ñất là một vật thể tự nhiên, ñược hình thành lâu ñời do kết quả tác ñộng tổng hợp của 5 yếu tố hình thành ñất, bao gồm: ñá mẹ, sinh vật (thực vật, ñộng vật và vi sinh vật), khí hậu, ñịa hình và thời gian.
Tuy nhiên, sau khi loài người xuất hiện thì ñất không chỉ là ñối tượng lao ñộng, tư liệu sản xuất mà còn là sản phẩm lao ñộng của con người. Vì vậy, con người cũng là một nhân tố quan trọng trong quá trình hình thành ñất. Khái niệm về ñất rừng Nghiên cứu về ñất rừng là một phần của khoa học ñất, khi nghiên cứu về ñất rừng là nghiên cứu về quá trình hình thành và biến ñổi của ñất dưới các quần xã thực vật rừng, và coi ñất là môi trường sống của cây rừng. Đất rừng cũng ñược coi là một thành phần quan trọng trong sinh ñịa quần lạc theo khái niệm của Viện sĩ Su- ka-sép (1964) (dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình, 1996) [7].
Khái niệm về ĐTĐNT Trần Đình Lý (1993-1997) [35] ñưa ra ñịnh nghĩa “ĐTĐNT là những vùng ñất chưa có TTV gỗ là chủ yếu hoặc ñã có nhưng ñã bị tàn phá mà trên ñó chỉ còn là những trảng cỏ, trảng cây bụi hoặc các loại cây ăn quả, cây nông nghiệp hay ñồng cỏ chăn nuôi bị thoái hoá, năng suất thấp, không ổn ñịnh”. Đây là ñịnh nghĩa ñầu tiên về ĐTĐNT ở nước ta. Tác giả cũng ñã căn cứ vào thành phần thực vật, cấu trúc phẫu diện và ñộ phì của ñất, phân chia ĐTĐNT ở nước ta thành 3 nhóm như sau: - Nhóm I: Gồm những diện tích do rừng khai thác kiệt, hoặc do bị ñốt chặt phá rừng ñể trồng cây nông nghiệp sau 2-3 vụ (ñôi khi hơn) rồi bỏ hoá. e 5 - Nhóm II: Là các loại ĐTĐNT ñược hình thành do rừng bị chặt, ñốt ñể lấy ñất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày lặp ñi lặp lại nhiều lần nhưng không có biện pháp bảo vệ và giữ gìn ñộ phì của ñất, làm cho ñất bị xói mòn rửa trôi thoái hoá mạnh.
- Nhóm III: Gồm các bãi cát ven biển và nội ñồng, các loại núi trọc trơ sỏi ñá mà lớp ñất mặt còn rất mỏng hoặc ñất phát sinh chưa hoàn chỉnh. Khái niệm về TTV và TTV thứ sinh Trong lịch sử của nhân loại, con người ñã phân biệt ñược các loài cây với nhau. Loài cỏ này với loài cây, ñồng thời nhận thức ñược khu hệ thực vật bao gồm các loại cây cỏ phân bố ở phạm vi ñịa phương nào ñó. TTV là gì? Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước của các nhà khoa học về TTV và ñưa ra các khái niệm khác nhau.
TTV là lớp thực bì của trái ñất và các bộ phận hợp thành khác nhau của nó. Thái Văn Trừng (1978) [67] , cho rằng TTV là quần thể thực vật phủ trên mặt ñất như một tấm thảm xanh. Trần Đình Lý (1998) [37] , TTV là toàn bộ lớp thực vật ở vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật ở trên toàn bộ bề mặt của trái ñất. Như vậy, TTV là một khái niệm chung, chưa rõ ñối tượng cụ thể nào.
Nó chỉ có giá trị và ý nghĩa cụ thể khi có ñịnh nghĩa kèm theo: TTV cây cỏ, TTV cây bụi, TTV tái sinh, TTV trên ñất cát ven biển, TTV rừng ngập mặn … Theo Trần Đình Lý (1998) [37] , TTV thứ sinh là các trạng thái TTV xuất hiện sau khi TTV nguyên sinh bị tác ñộng ñã thay ñổi hoặc bị phá hoại. Các trạng thái TTV thứ sinh thường là thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng TSTN ở các giai ñoạn khác nhau, rừng bị tác ñộng mạnh. TTV thứ sinh khác biệt so với TTV nguyên sinh ở thành phần thực vật, cấu trúc tầng tán, năng lực phát triển, sinh khối, hoàn cảnh rừng và nhiều yếu tố khác. Sự khác nhau giữa các TTV và rừng dựa trên sự có mặt của một lượng cây gỗ có chiều dài và ñường kính nhất ñịnh.
Các thông số này ñược khái quát bằng tỷ lệ ñộ tán che của cây gỗ có chiều cao từ 5m trở lên so với ñất rừng (ñộ tán che: k) (k = 0,3 chưa có rừng; 0,3 → 0,6 rừng thưa; k > 0,6 rừng kín). Khái niệm phủ xanh ĐTĐNT Trước ñây quan niệm phủ xanh là trồng rừng trên ñất trống ñã bị mất hoặc chưa có rừng. Nhưng ñến ñầu những năm 1980, cùng với trồng rừng, các biện pháp khác như nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ñều ñược coi là phủ xanh ĐTĐNT. Trong Quyết ñịnh số 661/QĐ/TTg, ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu, chính sách và tổ chức thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng ñã nêu rõ: Nhiệm vụ ñầu năm 2010 phải ñạt ñược các chỉ tiêu trồng mới 5 triệu ha.
Trong ñó, rừng phòng hộ và rừng ñặc dụng 1 triệu ha, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả 1 triệu ha. Như vậy, phủ xanh ĐTĐNT không chỉ có trồng rừng, mà nó còn có giải pháp khác ñó là thực hiện canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, xây dựng vườn rừng, ñồng cỏ chăn nuôi… Có quan niệm có rằng phủ xanh ĐTĐNT là quá trình tạo ra thảm cây xanh trên vùng ñất chưa có rừng, chưa có TTV hoặc trên vùng ñất ñã mất rừng. Định nghĩa như vậy về phủ xanh ĐTĐNT là không sai, nhưng nó chưa bao hàm hết nội dung của vấn ñề ĐTĐNT. Nó mới chỉ chú ý ñến hay nhận mạnh về mặt môi trường và cảnh quan sinh thái mà không hàm ý các nội dung khác như kinh tế, xã hội.
Bởi lẽ trong thời ñại ngày nay mọi hoạt ñộng ñều hướng tới phục vụ lợi ích toàn diện của con người. Các lợi ích ñó thể hiện ở cả 3 nội dung: kinh tế, xã hội, môi trường. Trước ñây quan niệm phủ xanh là trồng rừng trên ñất trống ñã bị mất hoặc chưa có rừng. Nhưng ñến ñầu những năm 1980, cùng với trồng rừng, các biện pháp khác như nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ñều ñược coi là phủ xanh ĐTĐNT.
e 7 Rừng bị khai thác kiệt Rừng TTV ñáp Thảm cây bụi tự nhiên ứng yêu TTV phòng hộ cầu kinh tế môi Đất trống không có TTV trường Thảm cây nông nghiệp có năng suất cao Các quần xã cây ăn quả, công Đồng cỏ chăn nuôi nông nghiệp năng suất thấp, ñồng cỏ thoái hoá Hình 1. Sơ ñồ quá trình phủ xanh ĐTĐNT Phủ xanh ĐTĐNT là quá trình vận dụng quy luật diễn thế tự nhiên ñi lên của TTV và quá trình nhân tác tích cực ñể biến ñổi vùng ñất trống hoang hoá, chưa có TTV rừng hoặc ñã có nhưng bị suy thoái ở những mức ñộ khác nhau mà trên ñó hiện chỉ còn trơ sỏi ñá, thảm cỏ, thảm cây bụi tự nhiên hoặc các thảm cây bụi nhân tạo ñã thoái hoá, năng suất thấp, không ổn ñịnh thành các quần xã thực vật rừng, thảm cây ăn quả, cây công nghiệp, ñồng cỏ chăn nuôi ñáp ứng ñược yêu cầu bảo vệ, cải tạo ñất và môi trường, ñồng thời có năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn. Quá trình ñó thể hiện ở hình 1. Trong Quyết ñịnh số 661/QĐ/TTg, ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ ñã nêu rõ: Nhiệm vụ ñến năm 2010 phải ñạt ñược các chỉ tiêu trồng mới 5 triệu ha.
Trong ñó rừng phòng hộ và rừng ñặc dụng 1 triệu ha, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả 1 triệu ha. Như vậy, phủ xanh ĐTĐNT không chỉ có trồng rừng, mà nó còn có giải pháp khác ñó là thực hiện canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, xây dựng vườn rừng, ñồng cỏ chăn nuôi… 1. Những nghiên cứu về TTV 1. Đơn vị cơ bản trong hệ thống phân loại TTV Để phân loại chuẩn xác TTV, các nhà khoa học dựa vào yếu tố cơ bản là: Đơn vị phân loại TTV.
Thành phần của yếu tố trong TTV là các cá thể của các loài cây cỏ nhưng ñối tượng nghiên cứu của TTV là những tập thể cây cối ñược hình e 8 thành từ số lượng lớn hay nhỏ của các cá thể của các loài thực vật. Hay nói một cách khác, ñây là một tổ hợp có tính quy luật dưới một quần xã các khoảnh của quần xã thực vật, nó quyết ñịnh ñặc tính ngoại mạo, cảnh quan ñịa lý và chịu ảnh hưởng, tác ñộng lẫn nhau trong quá trình tồn tại và phát triển. Trong hệ thống phân loại thực vật thì loài (Species) là ñơn vị phân loại cơ bản. Vậy ñối với TTV thì ñối tượng nào là ñơn vị phân loại cơ sở? Trên thế giới Hiện nay vẫn tồn tại 2 trường phái nghiên cứu khác nhau về quan ñiểm chọn ñối tượng làm tiêu chuẩn trọng tâm.
Trường phái thứ nhất lấy thành phần loài thực vật làm tiêu chuẩn chủ yếu ñể phân loại TTV và coi quần hợp (Association) là ñơn vị cơ sở cho phân loại TTV. Đây là một loại hình TTV che phủ trên một vùng ñất rộng lớn. Đại diện cho trường phái này J. Mueller và nhiều học giả Tây Âu.
Trường phái thứ hai lấy hình thái ngoại mạo và cấu trúc làm tiêu chuẩn chủ yếu ñể phân loại TTV thì coi quần thể (Population) hay kiểu thảm TTV (Vegetationtype) là ñơn vị phân loại cơ bản của TTV. Đây là những tập thể cây cỏ lớn ñem lại một hình dáng ñặc biệt cho phong cảnh do sự tập hợp của những cây cỏ khác loài, nhưng cùng chung một dạng sống ưu thế (Hội nghị Quốc tế ngành Thực vật học lần II tại Paris, 1945). Đại diện cho trường phái này A. Quan ñiểm này cũng ñược Xukatsev, Thái Văn Trừng (1998) [68] áp dụng.
Ở Việt Nam Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [58] áp dụng khung phân loại TTV thế giới của UNESCO (1973) [84] ñã xây dựng bảng phân loại TTV Việt Nam. Bảng này có 4 quần hệ: rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ. Vũ Đình Huề (1982) [21] ñưa ra phương pháp phân loại rừng phục vụ mục ñích kinh doanh. Ông cho rằng kiểu rừng là một loạt các xã hợp thực vật thuộc một kiểu trạng thái trong phạm vi một kiểu thực bì và tương ứng có các biện pháp lâm sinh phù hợp.
e 9 Trần Ngũ Phương (1970) [45] ñã xây dưng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam.