Tổng quan nghiên cứu
Khu rừng Ngọa Vân tọa lạc trên địa bàn xã An Sinh và xã Bình Khê thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, nằm trong quần thể Di tích Quốc gia đặc biệt Nhà Trần được công nhận theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Thị xã Đông Triều sở hữu tổng diện tích tự nhiên 39.658,34 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm hơn 19.000 ha; riêng xã An Sinh có 8.306,4 ha diện tích tự nhiên với 5.143,3 ha đất có rừng và đạt độ che phủ rừng lên tới 61,9%. Khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước cho các hồ chứa lớn như Khe Chè, Trại Lốc và duy trì cân bằng sinh thái cho toàn bộ vùng Đông Bắc.
Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số cùng hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác lâm sản và dược liệu trái phép, làm suy thoái tài nguyên sinh vật và thu hẹp sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài thực vật bản địa. Trong tổng số 5.143,3 ha đất có rừng của xã An Sinh, diện tích rừng tự nhiên chỉ còn lại 1.027,9 ha, phần còn lại là rừng trồng với 3.948,4 ha. Việc thiếu hụt các dữ liệu điều tra toàn diện và có hệ thống về cấu trúc hệ thực vật tại đây đã tạo ra rào cản lớn cho công tác quản lý bảo tồn di tích gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.
Đề tài được triển khai nhằm mục tiêu xác định thành phần loài, đánh giá bản chất hệ thực vật, phổ dạng sống, yếu tố địa lý và các nhân tố đe dọa đến hệ thực vật bậc cao có mạch tại khu rừng Ngọa Vân. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp Ban Quản lý Di tích, lực lượng Kiểm lâm và chính quyền địa phương xây dựng phương án bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi rừng tự nhiên và định hướng khai thác du lịch văn hóa - sinh thái bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý thuyết phân loại học thực vật hiện đại và sinh thái học cảnh quan nhiệt đới. Danh lục thực vật được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Brummit (1992) kết hợp với các quan điểm phân loại học tiến hóa của Takhtajan (1977). Bản chất nhiệt đới của hệ thực vật được kiểm chứng qua nguyên lý tỷ trọng phân loại giữa lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) và lớp Loa kèn (Liliopsida) của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (2002), khẳng định tỷ số này ở các vùng nhiệt đới ẩm luôn đạt giá trị lớn hơn 3.
Phổ dạng sống của hệ thực vật được phân tích theo hệ thống phân loại dạng sống thích nghi của Raunkiaer (1934) đã được điều chỉnh phù hợp với điều kiện sinh thái rừng Việt Nam bởi Thái Văn Trừng (1978, 1999), bao gồm 5 nhóm chính: cây chồi trên (Phanerophytes - Ph), cây chồi sát đất (Chamaephytes - Ch), cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes - Hm), cây chồi ẩn (Cryptophytes - Cr) và cây một năm (Therophytes - Th). Phân tích yếu tố địa lý thực vật dựa trên phương pháp phân chia nguồn gốc phát sinh của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) và Pocs Tamas (1965). Mức độ đa dạng của các taxon bậc họ và chi được đánh giá theo tiêu chuẩn của Tolmachov A.I (1986).
Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thu thập dữ liệu thực địa được tiến hành liên tục từ ngày 10/05/2018 đến ngày 30/09/2018 tại khu rừng Ngọa Vân qua 5 đợt khảo sát thực tế. Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ kiểm lâm địa bàn và cộng đồng dân cư am hiểu rừng. Tổng cộng 9 tuyến điều tra chính và các tuyến phụ rẽ nhánh 100m sang hai bên đã được thiết lập, bao phủ toàn diện các dạng địa hình từ chân núi, dọc tuyến cáp treo, đường đi bộ Cầu Kiệu lên đến chùa Ngọa Vân và đỉnh núi ở độ cao trên 800m.
Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 677 số hiệu mẫu thực vật được thu thập theo đúng quy chuẩn thu mẫu đại diện có đầy đủ cơ quan sinh dưỡng (thân, cành, lá) và cơ quan sinh sản (hoa, quả). Phương pháp giám định mẫu vật dựa trên hình thái so sánh, đối chiếu với các bộ khóa phân loại trong Thực vật chí Đông Dương (Lecomte, 1907-1952), Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000), Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001, 2005) và tham vấn ý kiến chuyên gia phân loại thực vật. Mức độ đe dọa của các loài được xác định căn cứ vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Chỉ số tương đồng sinh thái Sorenson (S) được áp dụng để so sánh mức độ đa dạng loài giữa hệ thực vật Ngọa Vân với các khu vực bảo tồn khác tại miền Bắc.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả phân loại và giám định từ 677 mẫu thu thập đã xác định hệ thực vật bậc cao có mạch tại khu rừng Ngọa Vân có 297 loài thuộc 219 chi và 94 họ, phân bố trong 3 ngành thực vật chính:
Thứ nhất, về tương quan giữa các ngành, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 279 loài (chiếm 93,94% tổng số loài), 205 chi (chiếm 93,61% tổng số chi) và 82 họ (chiếm 87,23% tổng số họ). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 16 loài (chiếm 5,39%), 13 chi (chiếm 5,94%) và 11 họ (chiếm 11,70%). Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có số lượng ít nhất với 2 loài (chiếm 0,67%), thuộc 1 chi và 1 họ.
Thứ hai, trong ngành Ngọc lan, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế áp đảo với 255 loài (chiếm 85,86% tổng số loài), 185 chi và 71 họ; trong khi lớp Loa kèn (Liliopsida) chỉ có 24 loài (chiếm 8,08%), 20 chi và 11 họ. Tỷ trọng số loài giữa lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn đạt mức 10,63 (tỷ trọng chi đạt 9,25 và tỷ trọng họ đạt 6,45), thể hiện đặc trưng của hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới gió mùa.
Thứ ba, sự đa dạng ở cấp độ taxon họ và chi ghi nhận 10 họ giàu loài nhất tập hợp 159 loài, chiếm 53,50% tổng số loài của toàn khu vực. Dẫn đầu là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 26 loài và 19 chi, tiếp theo là họ Cà phê (Rubiaceae) với 18 loài và 13 chi, họ Đậu (Fabaceae) với 15 loài và họ Long não (Lauraceae) với 12 loài. Về cấp độ chi, 15 chi đa dạng nhất tập hợp 61 loài (chiếm 27,90% tổng số loài), trong đó chi Sung (Ficus) có số lượng lớn nhất với 8 loài, chi Trâm (Syzygium) có 7 loài và chi Dẻ (Castanopsis) có 6 loài.
Thứ tư, nghiên cứu đã phát hiện 37 họ đơn loài (mỗi họ chỉ có 1 chi và 1 loài duy nhất), chiếm 39,36% tổng số họ của hệ thực vật khu vực, tiêu biểu như họ Thích (Aceraceae với loài Thích lá re - Acer laurinum), họ Huyết giác (Dracaenaceae với loài Phát lộc - Dracaena angustifolia) và họ Dây hương (Erythropalaceae với loài Dây hương - Erythropalum scandens).
Thảo luận kết quả
Cấu trúc thành phần loài của hệ thực vật Ngọa Vân phản ánh tính thích nghi sinh thái cao với điều kiện lập địa vùng núi thấp cánh cung Đông Triều. Lượng mưa trung bình năm 1.790mm, độ ẩm 80% cùng nhiệt độ trung bình 22°C là các nhân tố sinh thái thuận lợi hỗ trợ sự phân hóa mạnh mẽ của các nhóm loài thuộc họ Euphorbiaceae, Rubiaceae và Lauraceae. Tỷ lệ 10 họ đa dạng nhất chiếm 53,50% hoàn toàn tương đồng với quy luật cấu trúc hệ thực vật nhiệt đới gió mùa của Tolmachov A.I, minh chứng cho sự đa dạng sinh học phong phú của một khu bảo vệ cảnh quan có diện tích tự nhiên khiêm tốn.
Khi phân tích dữ liệu, các biểu đồ cột thể hiện tương quan taxon giữa các ngành và biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ 53,50% của 10 họ ưu thế làm nổi bật cấu trúc phân tầng sinh thái của khu rừng. Tầng tán chính có độ tàn che từ 70% đến 80% với mật độ 1.020 cây/ha do các loài ưu thế như Chẹo tía (Engelhardtia chrysolepis), Sồi lá mai (Lithocarpus bambusaefolia) và Đỏm gai (Bridelia minutiflora) chiếm giữ. Sự xuất hiện của 37 họ đơn loài cùng 16 loài Dương xỉ chỉ thị cho vi khí hậu ẩm ướt vùng núi đá, đồng thời phản ánh tính tổn thương sinh thái cao trước các tác động chia cắt sinh cảnh do xây dựng hạ tầng du lịch và khai thác lâm sản phụ.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm bảo tồn tính đa dạng sinh học và phát triển bền vững hệ thực vật khu rừng bảo vệ cảnh quan Ngọa Vân, bốn nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:
Thực hiện khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng trên toàn bộ 1.027,9 ha rừng tự nhiên hiện có tại xã An Sinh, tập trung vào các trạng thái rừng phục hồi sau khai thác và nương rẫy. Đặt mục tiêu nâng độ che phủ rừng tự nhiên lên thêm 5% trong giai đoạn 2024-2028, ưu tiên bảo tồn nguyên vị (in-situ) đối với 37 họ đơn loài có nguy cơ biến mất cục bộ như Dracaenaceae, Aceraceae và Clusiaceae. Cơ quan chủ trì thực hiện là Ban Quản lý Di tích thị xã Đông Triều phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm thị xã Đông Triều.
Thiết lập hệ thống 45 cột mốc ranh giới bảo vệ rừng đặc dụng và lắp đặt 20 biển báo cố định tuyên truyền bảo vệ thực vật dọc theo 9 tuyến điều tra trọng điểm, đặc biệt tại các khu vực nhạy cảm từ Cầu Kiệu lên Thông Đàn và chùa Ngọa Vân. Tích hợp công nghệ định vị GPS vào phần mềm giám sát diễn biến tài nguyên rừng với chu kỳ cập nhật dữ liệu 6 tháng/lần do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh phối hợp Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều triển khai từ quý I năm 2024.
Phát triển các mô hình sinh kế bền vững dưới tán rừng trồng (3.948,4 ha) thông qua việc hỗ trợ kỹ thuật trồng và khai thác hợp lý các loài cây dược liệu, cây ăn quả bản địa cho hơn 560 hộ dân sinh sống tại các thôn Trại Lốc 1, Trại Lốc 2 và Tây Sơn. Mục tiêu giảm thiểu 85% các vụ việc xâm nhập rừng tự nhiên để chặt củi, đào rễ cây thuốc và bẻ phong lan trái phép tính đến năm 2026. Đơn vị điều phối là Ủy ban nhân dân xã An Sinh kết hợp Phòng Nông nghiệp và PTNT thị xã Đông Triều.
Tăng cường thực thi pháp luật và nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua việc phổ biến sâu rộng Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14, Nghị định số 117/2010/NĐ-CP và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP cho 100% người dân vùng đệm. Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa lực lượng kiểm lâm, công an xã và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cáp treo trong việc kiểm soát rác thải du lịch và phòng chống cháy rừng trong mùa khô hanh từ tháng 10 đến tháng 4 hàng năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là nguồn tài liệu khoa học chuyên sâu, cung cấp dữ liệu thực chứng hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
Cán bộ quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý khu di tích: Nghiên cứu cung cấp bảng danh lục đầy đủ 297 loài thực vật và bản đồ phân bố 9 tuyến điều tra, giúp các nhà quản lý xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và bảo tồn cảnh quan di tích quốc gia đặc biệt Nhà Trần.
Nhà nghiên cứu thực vật học và sinh thái học cảnh quan: Bộ cơ sở dữ liệu về 677 mẫu thực vật, phân tích tỷ trọng ngành Ngọc lan đạt 93,94% và 37 họ đơn loài là tư liệu so sánh giá trị cho các công trình nghiên cứu về địa lý thực vật học vùng cánh cung Đông Triều và khu hệ thực vật miền Bắc Việt Nam.
Học viên cao học, sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Lâm sinh: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình điều tra thực địa trên tuyến, phương pháp giám định hình thái học kết hợp phân tích toán thống kê sinh thái học theo hệ thống Brummit (1992) và thang phân loại Raunkiaer.
Doanh nghiệp phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương: Doanh nghiệp lữ hành có thể khai thác danh mục các loài cây cảnh quan, cây bóng mát và thảm tươi đặc sắc để xây dựng các tour du lịch giáo dục môi trường, trải nghiệm thiên nhiên gắn liền với hành trình hành hương văn hóa tâm linh.
Câu hỏi thường gặp
Hệ thực vật khu rừng Ngọa Vân có bao nhiêu loài và ngành nào chiếm ưu thế nhất?
Nghiên cứu đã xác định khu rừng Ngọa Vân có 297 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 219 chi và 94 họ. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 279 loài (đạt tỷ lệ 93,94%), 205 chi (93,61%) và 82 họ (87,23%), phản ánh môi trường sinh thái nhiệt đới gió mùa điển hình.
Tại sao tỷ trọng giữa lớp Ngọc lan và lớp Loa kèn lại chứng minh tính chất nhiệt đới của rừng Ngọa Vân?
Theo các nghiên cứu địa thực vật học, tỷ trọng số loài lớp Ngọc lan so với lớp Loa kèn ở các vùng nhiệt đới luôn lớn hơn 3. Tại Ngọa Vân, tỷ lệ này đạt 10,63 (255 loài lớp Ngọc lan so với 24 loài lớp Loa kèn), chứng minh khu vực mang bản chất hệ thực vật nhiệt đới ẩm gió mùa rất rõ rệt.
Giá trị bảo tồn của 37 họ đơn loài tại khu rừng Ngọa Vân là gì?
Hệ thực vật ghi nhận 37 họ đơn loài (mỗi họ chỉ có 1 chi và 1 loài), chiếm 39,36% tổng số họ. Đây là các taxon có tính đại diện sinh thái độc đáo nhưng rất dễ bị đe dọa tuyệt chủng cục bộ khi sinh cảnh bị tác động, đòi hỏi các biện pháp bảo tồn nguyên vị nghiêm ngặt.
Phương pháp điều tra thực địa trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào?
Tác giả đã thiết lập 9 tuyến điều tra chính và các tuyến phụ rẽ nhánh 100m, trải dài qua các sinh cảnh từ chân đường đi bộ lên đến đỉnh núi Ngọa Vân. Tổng cộng 677 số hiệu mẫu thực vật đã được thu thập, chụp ảnh và giám định hình thái so sánh từ tháng 5/2018 đến tháng 9/2018.
Căn cứ pháp lý nào khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn rừng Ngọa Vân?
Khu rừng nằm trong quần thể Di tích Quốc gia đặc biệt Nhà Trần theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ, được quản lý theo Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 và Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
Kết luận
- Luận văn đã xây dựng danh lục hệ thực vật bậc cao có mạch tại khu rừng Ngọa Vân gồm 297 loài, 219 chi, 94 họ thuộc 3 ngành thực vật.
- Ngành Ngọc lan giữ vị thế áp đảo với 279 loài (93,94%), tỷ số phân loại lớp Ngọc lan/Loa kèn đạt 10,63 khẳng định tính chất nhiệt đới gió mùa sâu sắc.
- Xác định 10 họ giàu loài nhất chiếm 53,50% tổng số loài (tiêu biểu là Euphorbiaceae với 26 loài, Rubiaceae với 18 loài) và phát hiện 37 họ thực vật đơn loài có giá trị bảo tồn cao.
- Đánh giá toàn diện các áp lực từ dân sinh, chuyển đổi đất rừng và đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật - xã hội nhằm phục hồi 1.027,9 ha rừng tự nhiên.
- Đóng góp nguồn dữ liệu khoa học nền tảng phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với bảo vệ di tích quốc gia đặc biệt Nhà Trần tại thị xã Đông Triều.
Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2024-2026 cần mở rộng các đợt điều tra bổ sung vào mùa khô để hoàn thiện danh lục nấm lớn và thực vật bậc thấp, đồng thời số hóa bản đồ phân bố các loài nguy cấp. Các cơ quan quản lý, nhà khoa học và chính quyền địa phương cần khẩn trương phối hợp đưa các giải pháp của luận văn vào thực tiễn quản lý lâm nghiệp bền vững.