CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về cây rau má 1.1 Phân loại và đặc điểm hình thái Bảng 1. 1: Phân loại cây Centella asiatica [1] Hệ thống phân loại (Taxonomy) Giới Phân giới Lớp Phân lớp Họ Chi Loài Apiaceae Centella Eukaryota Embryophyta Dicotyledoneae Rosidae hay Centella asiatica Umbelliferae Tên khoa học Centella asiatica (L. Cây rau má (Centella asiatica (L.) Urban) là một loại cây thân thảo nhỏ (họ Apiaceae), có khoảng 30 loài trong họ, với hình dáng mảnh mai, hoa màu trắng, sống ở những vùng ẩm ướt, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [1]. Rau má phân bố ở nhiều nơi ở Châu Á như: Ấn Độ, Đức, Sri Lanka, Nam Phi, Úc, Indonesia, Malaysia và Việt Nam [2-4].
1: Hình thái cây rau má Centella asiatica 1 1.2 Thành phần hoạt chất Centella asiatica chứa nhiều hoạt chất chuyển hóa thứ cấp, đặc biệt là asiaticoside, madecassoside, asiatic acid và madecassic acid thuộc nhóm saponin triterpenoid [2, 5, 6]. Asiaticoside được tìm thấy nhiều nhất trong tất cả các thành phần của cây, ngoài ra còn có một lượng nhỏ tinh dầu. Một số thành phần khác được công bố chứa trong C. asiatica gồm flavonoid như quercetin, kaempferol và một số phytosterol như campesterol, sitosterol và stigmasterol [7].
Các chất chuyển hóa thứ cấp là những sản phẩm thiên nhiên thường tạo từ điều kiện sinh thái do tương tác giữa thực vật và môi trường phát triển của chúng. Có thể thu được những sản phẩm này do điều kiện canh tác, nuôi trồng vá cải tiến các phương pháp để cây sản sinh ra những chất mong muốn, tiếp cận các công nghệ sinh học để tăng nồng độ của các chất cần khảo sát. Tầm quan trọng của các chất chuyển hóa thứ cấp từ thực vật trong y học, nông nghiệp và công nghiệp đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu về tổng hợp, khảo sát hoạt tính sinh học của các chất này [2, 3]. Vậy tùy theo điều kiện môi trường mà hình dạng, hình dáng hay hoạt động trao đổi chất của cây C.
asiatica sẽ khác nhau [8, 9]. 2: Bảng các thành phần trong cây Centella asiatica Nhóm chính Thành phần Terpene acetate Tinh dầu (0.1 % của cây) Germacrene (Caryophyllene) p-Cymol (Pinene) Quercetin glycoside Dẫn xuất flavone Kaepferol, glycoside, astragalin Caryophyllene Elemene và bicycloelemene Sesquiterpenes Trans – farnesene Ermacrene D 2 Stigmasterol Triterpenenic steroid Sitisterol Asiatic acid 6-hydroxy asisatic acid (madecassic acid , Triterpenenic acid madasiatic acid) Betulinic acid (thankunic acid, Isothakunic acid) Asiaticoside A Ester của acid triterpenenic và Asiaticoside B đường Brahmoside Thankuniside Isothankuniside 1.3 Ứng dụng truyền thống Từ rất lâu trước đây y học dân gian đã sử dụng rau má để điều trị các bệnh như bệnh ngoài da, bệnh tâm thần, tăng cường trí nhớ và bệnh phong [10]. Ngày nay, rau má được xem cây dược liệu quan trọng, chứa các hoạt chất ứng dụng rộng rãi trong các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm (kem chống lão hóa và kháng oxy hóa, kháng viêm) [11].2 Tổng quan về hợp chất saponin Saponin là nhóm glycoside lớn những sản phẩm chuyển hóa thứ cấp được tìm thấy đa dạng trong các loại thực vật. Sự hiện diện của các saponin được công bố có trong hơn 100 họ thực vật, đóng vai trò thiết yếu trong chế độ ăn hằng ngày.
Nguồn saponin chính trong các cây họ đậu như: đậu nành, đậu xanh, đậu phộng, ., chúng còn hiện diện trong yến mạch, các họ tỏi, măng tây, trà, rau bina, củ cải đường, khoai lang. Saponin không chỉ phân bố ở thực vật, mà còn trong các loại nấm, và một số ít trong các sinh vật biển, rong biển, sao biển,. Các đặc tính của saponin thể hiện qua cấu trúc chứa các aglycon và một hay nhiều gốc đường, các carbonhydrate như đường C5, C6 hay acid uronic [13]. Dựa trên cấu trúc 3 hóa học khác nhau của các khung carbon, aglycon có thể phân thành triterpenoid và steroid, khác nhau bởi những nhóm thay thế, chủ yếu là gốc methyl và gốc carboxyl gắn vào những vị trí khác nhau trong trên khung vòng carbon.
Người ta phân loại một số nhóm đường dựa vào cấu trúc như mono, di, tri,. Hầu hết đường mono gồm: D-glucose (Glc), D-galactose (Gal), D-glucuronic acid (GlcA), D- galacturonic acid (GalA), L-rhamnose (Rha), L-arabinose (Ara), D-xylose (Xyl), và D- fucose (Fuc),. Monodesmosid saponin có một nhóm đường, thường đính vào C3. Bidesmosid saponin có hai nhóm đường thường là một nhóm liên kết ether tại C3 và một nhóm liên kết ester tại C28 (triterpene saponin), hay liên kết ether tại C26 (furastanol saponin).
3: Hợp chất saponin chứa trong một số loại thực vật [7] Nguồn thực vật Phần trăm saponin (%) Đậu nành 0.47 Quả bồ kết 10 Đậu xanh 0.2 Vỏ cây Quillaja 9-10 Cây Yucca (Asparagaceae) 10 Rễ cây cam thảo 22.13 Củ cải đường 5.8 Cỏ đinh lăng 0.1 Cấu trúc của saponin steroid Saponin dạng steroid có aglycone là nhóm steroid, steroid aglycones có khung với 27 nguyên tử carbon chia thành hai nhóm nhỏ: C-27 spirostane (nhóm lớn nhất, cấu trúc sáu vòng) và C-26 furostane (cấu trúc năm vòng) [14, 15]. Nhóm spirostan: Nhóm spirostan hiện nay được chú ý nhiều vì là nguồn nguyên liệu quan trọng để bán tổng hợp các thuốc steroid. Hai sapogenin quan trọng nhất là diosgenin (có chủ yếu trong các loài Dioscorea) và hecogenin (có chủ yếu trong các loài Agave). Nhóm furostan: Nhóm này có cấu trúc tương tự như nhóm spirostan chỉ khác là vòng F bị biến đổi.
Vòng F có thể mở, nếu xảy ra sự đóng vòng F thì chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan. Hoặc vòng F là vòng 5. Ngoài ra còn có các nhóm khác: Nhóm aminofurostan: Ở đây vòng F mở ở vị trí C-3 đính nhóm NH2. Ví dụ jurubin, là saponin có trong Solanum paniculatum.
Nhóm spirosolan: Nhóm này chỉ khác nhóm spirostan ở nguyên tử oxy của vòng F được thay bằng NH. Nhóm solanidan: Solanin có trong mầm khoai tây thuộc nhóm này. Ở đây 2 vòng E và F cùng chung 1C và 1N. Những chất thuộc 3 nhóm aminofurostan, spirosolan và solanidan đều có chứa N vừa mang tính alcaloid vừa mang tính glycosid nên được gọi là những chất glycoalcaloid.
2: Khung aglycone: Spirostan (diosgenin) – trái, Furostan (prodiosgenin) – phải 5 1.2 Cấu trúc của saponin triterpene Saponin triterpene có chứa triterpene aglycone (sapogenin) và một hoặc nhiều gốc đường liên kết với nhau thông qua các liên kết glycosidic acetal hoặc este tại một hoặc nhiều vị trí [12, 15]. Triterpene aglycone khác nhau về cấu trúc hóa học và được chia thành hai loại dựa vào số lượng vòng hydrocacbon, gồm các triterpenoid pentacyclic và saponin triterpenoid tetracyclic Triterpenes của C.asiatica chủ yếu là triterpene pentacyclic, thuộc loại ursane hoặc oleanane gồm asiaticoside, madecassoside, acid asiatic, và acid madecassic [9]. Thay thế methyl trên C19 và C20 thành các phân nhóm oleanane và ursane [16], ngoài ra còn mốt số nhóm như lupan, hopan,. Nhóm olean: Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc nhóm này.
Phần aglycon thường có 5 vòng. Mạch đường có thể nối vào C-3 theo dây nối acetal, có khi mạch đường nối vào C-28 theo dây nối ester. Gần đây người ta phân lập được các saponin có đến 10-11 đơn vị đường nếu kể cả 2 mạch, riêng một mạch có thể đến 6 đơn vị đường. 3: Cấu trúc khung olean 6 Nhóm ursan: Cấu trúc của nhóm ursan cũng tương tự như nhóm olean chỉ khác là nhóm methyl ở C-30 không đính vào vị trí C-20 mà lại đính ở vị trí C-19.
Những saponin của nhóm này ít gặp hơn nhóm olean. Cinchona glycosid A, cinchona glycosid B có trong cây canh-ki-na, asiaticoside, madecassoside có trong rau má là những saponin của nhóm này. 4: Cấu trúc khung ursane Hình 1. 5: Cấu trúc khung lupan (trái), hopan (phải) 7 1.3 Cấu tạo của các hợp chất triterpene có trong rau má Bảng 1.
4: Công thức cầu tạo của các hợp chất saponin triterpene trong rau má Asiaticoside Danh pháp: Urs-12-en-28-oic acid, 2,3,23-trihydroxy-, O-6- deoxy-.) Công thức: C48H78O19 Trọng lượng phân tử: 959.12 Madecassoside Danh pháp: O-6-Deoxy-alpha-L- mannopyranosyl-(1.6)-beta-D- glucopyranosyl(2alpha,3beta,4al pha,6b eta)-2,3,6,23- tetrahydroxyurs-12-en-28-oate Công thức: C48H78O20 Trọng lượng phân tử: 975.12 8 Asiatic acid Danh pháp: Urs-12-en-28- oic acid, 2,3,23-trihydroxy- , (2alpha,3beta,4alpha)- Công thức: C30H48O5 Trọng lượng phân tử: 488.70 Madecassic Danh pháp: 8,10,11-trihydroxy- acid 9- (hydroxymethyl) 1,2,6a,6b,9,12a- hexamethyl 2,3,4,5,6,6a,7,8,8a,10,11,12,13,1 4b-tetradecahydro-1H-picene-4a- carboxylic acid Công thức: C30H48O6 Trọng lượng phân tử: 504.4 Tính chất hóa lý của các hợp chất saponin Ban đầu các nghiên cứu thường sử dụng dịch chiết thô từ các cây có saponin để đánh giá hoạt tính sinh học. Sự phát triển của công nghệ tách chiết, tinh chế giúp phát hiện chính xác hoạt tính sinh học của những cấu trúc saponin cụ thể. Trong tự nhiên saponin từ các nguồn thực vật khác nhau, có sự đa dạng về tính chất lý học, hóa học và đặc điểm sinh học, nhưng đa số chúng đều có những đặc điểm cơ bản sau: Saponin là chất hoạt động bề mặt không ion, đặc trưng bởi tính chất tạo bọt và khả năng nhũ hóa [5, 17], tan trong nước làm giảm sức căng bề mặt. Đa số các hoạt chất saponin có vị đắng, dễ gây kích ứng niêm mạc.
Saponin là chất hoạt quang, điểm nóng chảy thường rất cao (khoảng 200 oC), tan trong nước, trong ethanol, methanol, rất ít tan trong acetone, 9 hexane. Ngoài ra còn một số tính chất dược lý, diệt côn trùng, ký sinh trùng, động vật thân mềm, kháng khuẩn,. do đó saponin được ứng dụng rộng rãi trong các loại thuốc, chất tẩy rửa, dầu gội, kem đánh răng, bánh kẹo và mỹ phẩm,. Hoạt tính ly giải hồng cầu: Saponin có khả năng làm căng trương, vỡ hồng cầu, tiêu huyết, dẫn đến tăng các xét nghiệm để phát hiện sự hiện diện của saponin trong thuốc hoặc chất chiết xuất từ thực vật, do đó saponin có độc tính cao khi tiêm vào mạch máu.
Nghiên cứu của Baumannet al. Hoạt tính kháng viêm: Một số saponin phân lập từ nguồn thực vật thể hiện tính kháng viêm. Frutice saponin B là một saponin bidesmosidic có nhóm saccharide không phân nhánh phân lập từ cây Bupleurum fruticescens L. Hoạt tính dược: Asiaticoside và madecassoside thể hiện hoạt tính chữa lành vết thương bằng cách tăng sự cư trú, bám dính của tế bào da, gia tăng số lượng các nguyên bào sợi, ngoài ra còn có tính chống bức xạ cao, kháng oxy hóa và bảo vệ thần kinh.
Asiatic acid và madecassic acid được nhận thấy có hiệu quả trong việc ngăn chặn sự phân chia của tế bào ung thư gan người, ung thư đại tràng, ung thư vú và khối u ác tính [4, 21]. Asiaticoside phân lập từ Centella asiatica, cho thấy thúc đầy đáng kể sự tổng hợp collagen loại I từ tế bào nguyên bào sợi da người, tác động mạnh mẽ lên việc duy trì làn da khỏe mạnh và ngăn chặn có hiệu quả hiện tượng lão hóa [21-23].3 Các công trình nghiên cứu liên quan Thành phần triterpenoid chính trong chiết xuất của rau má là asiaticoside, madecassoside, asiatic acid và madecassic acid. Quá trình tinh chế và phân tách để thu được riêng biệt những thành phần riêng trên từ cây rau má đòi hỏi phải kết hợp thực hiện nhiều bước.