MỞ ĐẦU Công nghệ nano ngày nay đang có những bƣớc tiến rất quan trọng, đặc biệt là vật liệu nano ngày càng đƣợc ứng dụng rộng rãi ở mọi lĩnh vực. Một trong những hƣớng đi quan trọng của công nghệ nano là ứng dụng của nó trong Y – sinh bao gồm sử dụng vật liệu nano vào các nghiên cứu, công cụ dẫn thuốc, liệu pháp điều trị, chẩn đoán và hỗ trợ điều trị bệnh [6, 14, 29, 33] nhằm mục đích cải thiện và nâng cao sức khỏe của con ngƣời. Trong số đó, các hạt nano từ tính đƣợc chức năng hóa bề mặt đã và đang đƣợc nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong những năm gần đây, ví dụ nhƣ tách chiết axít nucleic (ADN, ARN), phân tách tế bào, vận chuyển thuốc, liệu pháp trị nhiệt từ và nhiều ứng dụng khác nữa [3, 21, 26, 33]. Việc tinh sạch axít nucleic của vi sinh vật trong các mẫu bệnh phẩm là một bƣớc rất quan trọng vì các nghiên cứu, xét nghiệm sinh học phân tử bằng PCR, Real-time PCR đều cần đến nguồn axit nucleic tinh sạch.
Vì vậy, rất nhiều phƣơng pháp tách chiết và tinh sạch axít nucleic đã đƣợc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng rộng rãi, trong đó phƣơng pháp do René Boom và cộng sự phát minh vào năm 1990 là phƣơng pháp đƣợc sử dụng nhiều nhất. Nguyên lý của phƣơng pháp này dựa trên khả năng hình thành liên kết bền vững của hạt silica với axít nucleic thông qua cầu nối cation trong môi trƣờng có nồng độ muối cao [8, 9]. Một cải tiến mang tính đột phá của phƣơng pháp Boom đƣợc nhiều công ty công nghệ sinh học hàng đầu trên thế giới nhƣ Roche, Invitrogen, Promega, phát triển là sử dụng hạt nano từ tính bọc Khoa Sinh häc 4 Khãa 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Ph¹m ThÞ Trµ silica để tinh sạch axít nucleic, giúp nâng cao hiệu quả tách chiết và tiết kiệm thời gian thao tác. Đặc biệt, cải tiến này đã giúp chế tạo đƣợc các máy tự động tách chiết và tinh sạch axít nucleic [27, 39].
Tuy nhiên, giá thành của các bộ kít tinh sạch axít nucleic bằng hạt nano từ bọc silica rất cao. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển bộ kít tách chiết axit dựa trên nguyên lý hạt từ bọc silica có ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn cao giúp cho việc giảm chi phí trong khâu tách chiết, chủ động cung cấp kít tách chiết axit nucleic khi cần. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xử lý hạt từ nano đƣợc chức năng hóa bề mặt bằng silica (Silica-coated magnetic nano-particles) hay còn gọi là hạt Magsi nano do nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học Vật liệu của Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên chế tạo và bộ đệm thích hợp (kế thừa kết quả của nhóm nghiên cứu phòng Sinh học nano và Ứng dụng) để thử nghiệm khả năng tách chiết axit nucleic của virus Epstein Barr trong các bệnh phẩm của bệnh nhân ghi nhiễm EBV. EBV là virus truyền nhiễm trên ngƣời, lây truyền qua đƣờng ăn uống, tiếp xúc.
EBV liên quan đến nhiều bệnh lý nghiêm trọng nhƣ: ung thƣ vòm họng, Burkitt lymphoma, ung thƣ lymphoma và các trạng thái biến đổi tế bào lympho [1]. ADN tách chiết bởi bộ kít Virus Magnet Nano Kit bao gồm hạt Magsi nano và bộ đệm thích hợp sẽ đƣợc sử dụng trong phản ứng PCR và Real-time PCR để phát hiện và định lƣợng nồng độ EBV trong máu hay các mẫu bệnh phẩm nghi nhiễm, hỗ trợ trong công tác chẩn đoán, điều trị, tiên lƣợng các bệnh liên quan đến EBV. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu và thử nghiệm hạt từ nano được chức năng hóa bề mặt trong chẩn đoán Virus Epstein Barr’’ với các mục tiêu sau: 1. Xây dựng phƣơng pháp phát hiện định tính và định lƣợng EBV bằng PCR và Real-time PCR.
Khoa Sinh häc 5 Khãa 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Ph¹m ThÞ Trµ 2. Nghiên cứu thử nghiệm khả năng tách chiết ADN của EBV trong mẫu máu bằng bộ kít tự chế tạo (Virus Magnet Nano Kit) gồm hạt từ nano đƣợc chức năng hóa bề mặt (cụ thể là hạt từ nano đƣợc bọc silica hay còn ký hiệu MagSi nano) và bộ đệm kèm theo (kế thừa kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc phòng Sinh học Nano và Ứng dụng thử nghiệm trên đối tƣợng HBV, HCV). So sánh khả năng tách chiết ADN EBV bằng kỹ thuật PCR, Real-time PCR với nguồn ADN khuôn tách bằng ba bộ kít: MinElute® Virus Spin Kit của hãng Qiagen, Dynabead Myone Silane® Kit của hãng Invitrogen, Virus Magnet Nano Kit trong cùng điều kiện thí nghiệm Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ EPSTEIN BARR VIRUS (EBV) 1.
Giới thiệu chung về EBV Hình 1.1: Hình ảnh Epstein Barr Virus dƣới kính hiển vi điện tử [47] Khoa Sinh häc 6 Khãa 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Ph¹m ThÞ Trµ Năm 1958, Burkitt phát hiện ra khối u lympho xƣơng hàm trên ở trẻ em Châu Phi, từ đó bệnh này đƣợc mang tên ông: Burkitt’s Lymphoma (BL). Vào năm 1964 nhóm tác giả Epstein, Barr và Pulvertaft phân lập đƣợc loại virus ở dòng lymphoblastes trong khối u LB (Lympho’s Burkitt) bằng kính hiển vi điện tử [15]. Từ đó virus này đƣợc mang tên là Epstein Barr Virus. Năm 1975, tác giả Nadol và cs phân lập đƣợc các hạt (virion) của EBV trong tế bào biểu mô ung thƣ vòm bằng kính hiển vi điện tử.
Đây là lần đầu ngƣời ta quan sát đƣợc các thể virus thuộc họ Herpesviridae trong tế bào ung thƣ ở ngƣời, do đó EBV bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ung thƣ ở ngƣời [1]. EBV thuộc họ virus Herpesviridae, có hệ gen thuộc loại ADN sợi đôi xoắn kép mạch hở, kích thƣớc hệ gen khoảng 184 kb nếu tính cả phần lặp lại ở hai đầu. Hệ gen EBV có 6 tổ hợp gen mã hóa cho các loại protein kháng nguyên nhân (Epstein Barr Virus nuclear antigen), đƣợc ký hiệu là: EBNA-1, EBNA-2, EBNA-3A, EBNA-3B, EBNA-3C, EBNA-LB và 3 gen mã hóa cho protein màng tiềm tàng (latent membral protein), đƣợc ký hiệu là: LMP-1, LMP-2A, LMP-2B [13]. Vai trò của sáu protein EBNA có liên quan đến quá trình nhân lên của EBV trong tế bào lympho B ở giai đoạn đầu xâm nhiễm còn 3 loại protein LMP có liên quan đến chu kỳ nhân lên của EBV trong tế bào lympho B.
Gen mã hóa cho protein EBNA-2 là một phân đoạn cơ bản trong gen EBNA của hệ gen EBV. EBNA -2 có vai trò biệt hóa tế bào lympho B thành tế bào mầm non hóa để EBV thực hiện quá trình gây ung thƣ. Hơn nữa gen EBNA-2 là gen đƣợc sao chép sớm nhất do vai trò của nó trong quá trình điều tiết sự nhân lên của tế bào bị nhiễm. EBNA-2 điều hòa quá trình sao chép gen và tổng hợp protein của cả virus và tế bào bị nhiễm EBV, protein EBNA-2 đƣợc coi là yếu tố quan trọng trong cảm ứng tăng sinh dòng tế bào lympho B [25].
Khoa Sinh häc 7 Khãa 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Ph¹m ThÞ Trµ Toàn bộ hệ gen EBV đƣợc chứa trong một vỏ capsid. Vỏ capsid này có hình thái đối xứng hình khối, đó là cấu trúc protein đóng kín bảo vệ nhân ADN của virus và mang tính kháng nguyên đặc hiệu của EBV (kháng nguyên VCA), đƣợc xác định bởi 20 mặt bên, 12 đỉnh và 3 trục đồng dạng đối xứng. Vỏ capsid lại đƣợc bao bọc bởi một vỏ bao ngoài khác gọi là vỏ ngoài (envelope) cấu trúc từ thành phần chủ yếu là glycoprotein. Vỏ bao ngoài này cũng đƣợc mã hóa bởi gen virus và cũng mang dấu ấn miễn dịch (hình 1.2: Cấu trúc của EBV [43] Giữa vỏ capsid và vỏ ngoài là khoảng chứa đựng các protein đệm cấu trúc và các enzyme của virus (Tegument).
Vỏ ngoài của EBV có sự nhạy cảm với các tác động của axit, ether, các dung dịch hòa tan sát khuẩn và đông khô [13]. EBV là loại virus truyền nhiễm gây bệnh trên ngƣời và lây truyền qua đƣờng tiêu hóa, tiếp xúc. Do đó, virus này thƣờng đƣợc phát hiện thấy trong chất thải tế bào và chất tiết ở phần trên của hệ tiêu hóa và hô hấp nhƣ nƣớc bọt, niêm dịch vùng họng. EBV có đặc tính hƣớng bạch huyết hấp phụ lên tế bào lympho B thông qua tƣơng tác của glycoprotein gp350/220 có trên bề mặt virus với thụ thể CR2/CR21 của bổ thể CD3 trên tế bào lympho B của ngƣời (hình 1.
Khoa Sinh häc 8 Khãa 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Ph¹m ThÞ Trµ Hình 1.3: Sự hấp phụ của EBV lên tế bào lympho B qua thụ thể CR21 [46] EBV ở trạng thái tiềm tan, nhiều bản sao ADN của EBV đƣợc tìm thấy trong tế bào chất của những tế bào lympho B bị nhiễm nhƣng chỉ có vài gen đƣợc sao chép. EBV có thể gây nhiễm ở dạng tiềm tan và tồn tại lâu dài trong cơ thể mà không gây bệnh. Nhƣng trong những cơ thể có thể trạng hệ miễn dịch suy yếu thì EBV có thể là nguyên nhân gây bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (IM-infectious mononucleosis), liên quan đến cơ chế tiến triển của một số loại ung thƣ nhƣ tăng lympho B, UTVMH, Burkitt lymphoma. Đặc trƣng của các khối u trong các bệnh ung thƣ này là trong các tế bào của khối u có chứa một lƣợng lớn các bản sao hệ gen EBV và xuất hiện sự biểu hiện nhiều protein có vai trò chuyển hóa khối u từ lành tính thành khối u ác tính [25].
Về mặt sinh bệnh học, sự nhiễm virus xảy ra đầu tiên ở vùng miệng, hầu rồi lan vào máu, tại đây tế bào lympho B bị nhiễm. Sự đáp ứng miễn dịch đầu tiên trong nhiễm EBV là cơ thể sinh kháng thể IgM chống lại kháng nguyên VCA của EBV, đáp ứng kháng thể IgM chỉ xuất hiện trong vài tuần đầu sau khi nhiễm, tiếp theo là kháng thể IgG và kháng thể IgG này tồn tại suối đời ngƣời nhiễm [19]. EBV thƣờng gây ra nhiễm trùng cấp ở vùng miệng họng, có thể hoặc không biểu hiện triệu chứng gì. Sau quá trình nhiễm đó EBV tồn tại tiềm tàng trong các tế bào biểu Khoa Sinh häc 9 Khãa 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ Ph¹m ThÞ Trµ mô hoặc lympho B.
Tùy theo hoàn cảnh hoặc tình trạng bệnh lý đặc biệt ở những ngƣời bị suy giảm miễn dịch ví dụ do HIV/ AIDS, bị suy dinh dƣỡng, hay ngƣời phụ nữ nhiễm mà mang thai thì EBV tái hoạt hóa trở lại.