Chương 1 : Tồng quan tài liệu và cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu. TỐNG QUAN NGHIÊN cứu VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN __ — _ , 1 2 l. Tông quan nghiên cứu vê hành vi tự làm tôn thương 1. Tỷ lệ dịch tê học Một nghiên cứu tổng quan tài liệu từ nàm 2005 đến 2011 ở đối tượng trẻ vị thành niên cho thấy tỷ lệ phổ biến hành vi tự làm tổn thương trên thế giới gộp chung là 17,2% (Swannell, 2014).
Muehlenkamp và cộng sự năm 2012 trong một nghiên cứu tổng quan cho hay tỷ lệ mắc phải suốt đời trung bình của hành vi tự làm tốn thương là 18% (Muehlenkamp và cộng sự, 2012). Trong đó, trẻ nằm trong độ tuổi vị thành niên có tý lệ mắc phải cao nhất. Nghiên cứu tại Mỹ cho biết tỷ lệ này là 12% đến 37,2% ớ trẻ trung học phổ thông và 12% đến 20% ở trẻ vị thành niên muộn và đầu thanh niên (Gollust và cộng sự, 2008). Tuổi khởi phát trung bình của hành vi tự làm tổn thương là từ 11-15 tuổi (Jacobson và Gould, 2007).
Hành vi xuất hiện ở trẻ vị thành niên càng sớm thỉ tần suất và mức độ cũng nhiều hơn so với khởi phát ở tuổi trưởng thành. Tuy vậy, nghiên cứu cũng cho thấy, tì lệ sẽ giảm mạnh ở tuối trưởng thành. (Jacobson, 2007) Một vài nghiên cứu về hành vi tự làm tổn thương ở Châu Á, khu vực được xem chú trọng nhiều vào thành tích học tập và có những đặc điểm văn hoá, sinh hoạt, hệ tư tưởng có những nét tương đồng với Việt Nam. Ờ Indonesia, một nghiên cứu với tổng 5211 người tham gia từ 34 tình, chỉ ra cứ 4 trong 10 người tham gia thực hiện nghiên cứu có ý định tự hại và tự sát (39.3%), đặc biệt là người trong độ tuổi 18 đến 24, sống ở đảo Java, đối tượng chủ yếu là người thất nghiệp, học sinh, người nghỉ hưu, người việc tự do, phụ nữ, nhóm cộng đồng thiểu số và nhóm bên lề (nhóm thiệt thòi - marginalized), cảm thấy cô đơn trong đại dịch.
Ớ Trung Quốc, theo một khảo sát quốc gia với 15,623 trẻ vị thành niên tham gia, ước chừng có khoảng 29% khách thể cho thấy đã thực hiện ít nhất một hành vi tự làm tổn thương trong vòng 12 tháng trở lại (Yuan SNV, Kwok KHR, Ougrin D, 2019). ______ _ _ _ ỵ _ _ _ _ _____ Tại Việt Nam, nghiên cứu công bô gân đây của Thái Thanh Trúc và cộng sự năm 2021, thực hiện trên 1315 học sinh trung học phổ thông, trong độ tuổi từ 15 đến 18, có 43,9 % trẻ vị thành niên có ít nhất một dạng hành vi tự làm tổn thương trong 12 tháng trở lại đây, và 26,1% khách thề tham gia báo cáo nhiều dạng thức tự làm tổn thương trong 1 năm. Một nghiên cứu khác triển khai trên địa bàn tình Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Mình với 1043 học sinh trung học phổ thông trong độ tuồi 12 đến 15, cho thấy 27% khách thể có hành vi tự làm tổn thương (Huỳnh Văn Sơn, 2017). Bên cạnh đó, nghiên cứu do Lê Thị Minh Hồng, Nguyễn Hương Thanh, Thạch Đức Trần và Jane R.w Fisher thực hiện vào năm 2012 sử dụng dữ liệu của Tổng cục thống kê 2006 trong Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và thanh niên lần I (2003 - 2004) và lần II (2009 - 2010) với mẫu 4609 trẻ vị thành niên trong độ tuổi từ 14 đến 19, sử dụng phòng vấn cấu trúc và bảng hỏi tự đánh giá, cho kết quả về trải nghiệm hành vi tự làm tổn thương lần lược là 2.
Anh hưởng của hành vi tự làm tôn thương Nock và cộng sự, 2006; Turner, Layden, Butler, & Chapman, 2013 chỉ ra rằng, hành vi tự hại có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ hành vi tự sát, và nguy cơ này tăng theo những hình thức khác nhau của HVTLTT (Nock và cộng sự, 2006). Klosky & Gleen, 2009, Theo Bảng hòi về hành vi tự hại (Inventory of Statements about Self-Injury), một trong những chức năng của HVTLTT là chống tự sát (anti-suicide), ý chỉ khi hành vi tự làm tổn thương được sử dụng để quản lý và né tránh thôi thúc tực sát. HVTLTT có thể là một cơ chế để quản 9 lý những đau khô vê mật cảm xúc bao gôm suy nghĩ tự sát. Nghịch lý là, sử 9 dụng HVTLTT làm cơ chế ngăn chặn tự sát, nhưng chính cơ chế này có thể làm giảm những rào cản dần đến việc tự sát bởi HVTLTT khiến cá nhân quen với việc tiếp xúc với cảm giác đau đớn hoặc là máu.
Có thể nói, dùng HVTLTT để tránh việc tự sát chỉ trong hiện tại nhưng sẽ tăng nguy cơ tự sát về sau (Klosky & Gleen, 2009). Wilson và cộng sự, 2016 cho thấy HVTLTT cũng liên quan đến việc làm giảm khả năng điều chỉnh cảm xúc qua thời gian, điều này được giải thích là những cá nhân thự hiện HVTLTT có khả năng kém dần trong việc kiểm soát đau khố cảm xúc, bởi họ ít luyện tập những chiến lược ứng phó lành mạnh như là tìm kiếm sự hồ trợ. Thêm vào đó, khả năng chịu đựng những đau khổ cũng giảm đi bởi những cá nhân này có xu hướng né tránh những tình huống có thể gây ra đau buồn và về sau càng né tránh thì họ càng nhạy cảm hơn với những kích thích như vậy (phản thích nghi/thói quen - dishabituation). (Wilson và cộng sự, 2016) Burke, Hamilton, Abramso, & Alloy, 2015 đề cập HVTLTT cũng liên quan đến việc mất liên kết xã hội.
Khi một trẻ vị thành niên có những mối quan hệ xã hội tổt thì trẻ sẽ có thể phát triển chiến lược điều chỉnh cảm xúc như là tìm kiếm sự hồ trợ xã hội, hoặc bộc lộ đâu khổ với người khác (Morris, Silk, Steinberg, Myers, & Robinson, 2007). Điều này cho thấy HVTLTT có những tác động tiêu cực lên chức năng xã hội và cảm xúc của một cá nhân. Hình thức đánh giá Có nhiều yếu tố cần cân nhắc khi thực hiện đánh giá HVTLTT. Có thể sử dụng bảng hỏi sàng lọc HVTLTT để xác định sớm HVTLTT.
Trong bảng hỏi tự trả lời để sàng lọc HVTLTT cần bao gồm câu hỏi về những hình thức khác nhau của HVTLTT. Lưu ý là HVTLTT là một hành vi mang tính bí mật, có thể liên quan đến những cảm xúc như xấu hổ, ngại ngùng, hoặc/và lo sợ bị 10 định kiến như thao túng hoặc sợ việc bị chú ý. Vì những lý do này mà thang tự đánh giá cỏ thể không được thực hiện chân thật hoặc có thể bị xem như bị xâm phạm (invasive). Theo Klonsky & Lewis năm 2014, có nhiêu thang tự đánh giá.
Bảng hỏi về hành vi tự cố ý (The Deliberate Self-Harm Inventory, DSHI; Gratz 2001) được sử dụng rộng rãi trong nghiên cửu, hỏi về mức độ thường cá nhân thực 17 hình thức khác nhau HVTLTT, và nhiều câu hỏi khác (như là cá nhân có yêu cầu chú ý về mặt ý trong bất kì giai đoạn nào của HVTLTT). Đánh giá chức năng của hành vi tự hại (The Functional Asessment of Self-Mutilation, FASM; Lloyd, Kelley & Hope, 1997) và Bảng hởi về Hành vi tự hại (The Inventory of Statements About Self-Injury, ISAS; Klonsky & Glenn, 2009) đều bao gồm nhưng hình thức thường gặp của tự hại, cũng như là chức của việc tự hại, và cá nhân chỉ ra mức độ chức năng của HVTLTT (how much each function applies to them). Cả 2 đều bao gồm nhiều câu hỏi mang tính lâm sàng như là thời gian từ lúc suy nghĩ/cảm giác thôi thúc tự hại đến khi thực hiện hành vi, điều này giúp cung cấp thông tin về tính bốc đồng. Bảng hởi tự hải Ottawa (The Ottawa Self-injury Inventory, OTI; Cloutier & Nixon, 2003) là một công cụ đo lường toàn diện/ chi tiết/ cẩn thận bao gồm những câu về hành vi tự làm tổn thương trong quá khứ và hiện tại, chức năng và những đặc tính gây nghiện của HVTLTT, động lực thay đổi và những câu về ý định tự tử.
Công cự sàng lọc gúp định hướng phỏng vấn đánh giá, nhưng sẽ không thể cung cấp tất cả những thông tin cần thiết cho việc định hình ca và kế hoạch trị liệu. Đánh giá trực tiếp cho thấy những thông tin có sắc thái hơn, và những gợi ý không lời, có thể là sự do dự khi nói về HVTLTT. Một đánh giá chi tiết cần có nhiều câu hỏi trải rộng trong suốt quá trình phỏng vấn: Bao gồm: 11 - Hiểu được lịch sử khi HVTLTT bắt đầu và trong hoàn cảnh nào (ví dụ, những tình huống/yếu tố trước khi tự hại) - Có giai đoạn kiêng/ nhịn thực hiện hành vi tự làm tốn thương không ( và có hay không những thôi thúc thực hiện hành vi trong quá trình, và cá nhân đã quản lý cảm giác đó như thế nào) - Loại hình tự hại mà cá nhân thực hiện (những loại hình khác nhau có những nguyên nhân/tình huống hoặc chức năng khác nhau không) cũng như là những dụng cụ thường được sử dụng (bao gồm cách thân chủ có được công cụ đó) - Địa điếm và thời gian trong ngày mà cá nhân thường thực hiện hành vi tự hại. - Khu vực nào trên cơ thể mà cá nhân thường thực hiện HVTLTT và nó có ý nghĩa gì, ví dụ những khu vực dễ dàng che đi để tránh những câu hỏi.
- Cá nhân thực hiện HVTLTT ở nơi riêng tư để không bị bắt gặp hay có nhũng người xung quanh, chứng kiến cá nhân thực hiện HVTLTT. - Có sử dụng cồn hay chất đi kèm với tự làm tốn thương không. - HVTLTT có xảy ra trong trạng thái phân ly không - vết thương được xử lý như thế nào, và điều này có nghĩa gì, ví dụ như xử lý vết thương như tự chăm sóc bản thân - Cá nhân có tiết lộ được việc HVTLTT với một người đáng tin không, - Cảm xúc, suy nghĩ và hành vi xảy ra sau HVTLTT ví dụ căm giác xấu hổ, tự nhủ tiêu cực - Các hậu quả liên quan đến HVTLTT 12 Linehan, 1993; Rizvi & Ritschel cho răng phân tích hành vi chức năng giúp cung cấp những thông tin hữu ích, cần thiết và giúp định hướng thân chủ. Bao gồm: - Yêu câu cá nhân thực hiện mô tả chi tiêt một lân thực hiện HVTLTT gần đây trong 24 giờ, bắt đầu từ ngày trước khi thực hiện HVTLTT và kết thúc sau khi thực HVTLTT vài giờ.
Như vậy có thể xác định được các nguyên nhân xa và gần cũng như những hậu quả ngay lập tức và xa hơn.