Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Giáo dục phổ thông theo cách hiểu chung nhất là bộ phận của giáo dục quốc dân có vai trò hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trang bị những tri thức và những kỹ năng hổ thông cơ bản về khoa học, văn hóa, nghệ thuật, hướng nghiệp, có sức khỏe để tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, học nghề, đi vào cuộc sống lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân. Giáo dục phổ thông bao gồm: Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm, từ lớ 1 đến lớp 5. Tuổi của học sinh tiểu học là từ 6 đến 11 tuổi. Tuổi vào học lớp 1 là 6 tuổi.
Trẻ em có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể học trước tuổi hoặc vượt cấp. Số năm học trước tuổi và vượt cấp trong cả bậc tiểu học không được quá một năm Trẻ em ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ em bị khuyết tật, trẻ em kém phát triển về thể lực và trí tuệ, trẻ em bị thiệt thòi, học sinh ở nước ngoài về nước có thể vào học lớp 1 ở lứa tuổi cao hơn Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớ 6 đến lớp 9. Học sinh vào học lớ đầu của trung học cơ sở phải hoàn thành chương trình giáo dục Tiểu học, có tuổi là mười một tuổi. Học sinh nữ được tăng 1 tuổi so với tuổi quy định.
Học sinh có thể lực tốt và phát triển sớm về mặt trí tuệ có thể học vượt lớp nếu được Hội đồng giáo dục nhà trường xét đề nghị và được Giám đốc Sở GD& T cho phép. Những học sinh thuộc dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện khó khăn, học sinh khuyết tật, kém về phát triển thể lực và trí tuệ, học sinh thiệt thòi, học sinh ở nước ngoài về có thể vào học lớ đầu cấp ở tuổi cao hơn tuổi quy định. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm, từ lớ 10 đến lớp 12. Học sinh vào lớ đầu trung học phổ thông phải hoàn thành chương trình trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi.
Học sinh nữ được tăng 1 tuổi so với tuổi quy định. Học sinh có thể lực tốt và phát triển sớm về mặt trí tuệ có thể học vượt lớp nếu được Hội đồng giáo dục nhà trường xét đề nghị và được Giám đốc Sở GD& T cho phép. Những học sinh thuộc dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện khó 8 khăn, học sinh khuyết tật, kém về phát triển thể lực và trí tuệ, học sinh thiệt thòi, học sinh ở nước ngoài về có thể vào học lớp 10 ở tuổi cao hơn tuổi quy định. Với nội hàm như đã trình bày, giáo dục phổ thông cả nước nói chung, giáo dục phổ thông tỉnh Lào Cai nói riêng ngay từ rất sớm đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, đơn vị, chuyên gia, nhà khoa học.
Tuy nhiên, trong ph m vi luận án này, nghiên cứu sinh tập trung làm rõ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục nói chung Có thể kể đến như: Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1962; Bàn về công tác giáo dục, Nxb Sự thật, 1972; Phạm Văn Đồng với sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979. Nhìn chung, những công trình này đã đề cậ đến những vấn đề cơ bản nhất của giáo dục, đặc biệt là đã đưa ra triết lý giáo dục; mục tiêu, biện pháp thực hành giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào t o nhân tài phục vụ sự nghiệ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, khi tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức t trước sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ông Âu, đá ứng yêu cầu của sự nghiệ đổi mới, nhận thức về giáo dục và phát triển giáo dục ở Việt Nam có bước phát triển mới, đánh dấu bằng sự ra đời của nhiều công trình gắn với nhiều tên tuổi lớn của nền khoa học nước nhà. Tiêu biểu như Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, người có nhiều cống hiến trong ngành giáo dục, đã tâm huyết phân tích về giáo dục trong những năm đầu thời kỳ đổi mới trong cuốn Nền giáo dục Việt Nam - Lý luận và thực hành, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1991. Cuốn sách là tập hợp các bài viết của tác giả về người thầy giáo, giáo dục thiếu niên nhi đồng, giáo dục miền núi, giáo dục phổ thông, giáo dục đ i học… không chỉ ở Việt Nam mà còn đề cậ đến trong sự tương quan với giáo dục của các nước. Tiế đó, cuốn sách Từ Bộ Quốc gia giáo dục đến Bộ Giáo dục và Đào tạo (1945 - 1995) của Vũ Xuân Ba, Ph m Duy Bình và Nguyễn Minh ường, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995, trình bày ho t động của Bộ GD& T qua các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đo n 1975 - 1986 và 1986 - 1995 trong việc chỉ đ o ngành giáo dục thực hiện các nhiệm vụ cụ thể: giáo dục phổ thông, bổ túc 9 văn hóa cũng như sư h m, mầm non, đ i học, trung học chuyên nghiệ và đánh giá kết quả qua 50 năm ho t động của Bộ Giáo dục.
Viết về giáo dục Việt Nam trong những năm đầu đổi mới, tác giả Ph m Minh H c với cuốn Góp phần đổi mới tư duy giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1991; 10 năm đổi mới giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, đã trình bày những nội dung về yêu cầu đổi mới GD& T, về việc ngành giáo dục quán triệt, học tập, triển khai Nghị quyết i hội đ i biểu toàn quốc lần thứ VI của ảng (1986) và các chỉ thị, nghị quyết của ảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục phổ thông, bổ túc và sư h m, kinh nghiệm giáo dục ở các địa hương Bên c nh đó, công trình 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1945 - 1995, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995 của tác giả Ph m Minh H c đã hác ho những nét cơ bản về tình hình giáo dục Việt Nam từ khi thành lậ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1945 đến năm 1995, trong đó tác giả đã trình bày một số nét về giáo dục trong 10 năm đầu đổi mới 1986 - 1996. Năm 1998, Nxb Giáo dục xuất bản cuốn Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Bối cảnh, xu hướng và động lực phát triển, trình bày quan điểm chỉ đ o xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, dự báo phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, hát triển giáo dục, giải há và chương trình hành động cho từng giai đo n… Tiế đó, cuốn Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI, do Vũ ình Cự (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, giới thiệu định hướng chiến lược và chính sách phát triển của Việt Nam, giáo dục hướng tới thế kỷ XXI như thế nào và chính sách phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới ặc biệt, cuốn Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI của Ph m Minh H c, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999, trình bày tính chất của nền giáo dục; nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, từ giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến giáo dục đ i học; phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và việc phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và những suy nghĩ về hương hướng phát triển giáo dục trong thời gian tới ây là những công trình quan trọng, là nguồn tư liệu liên quan trực tiế đến đề tài Luận án, Nghiên cứu sinh sẽ kế thừa trong quá trình nghiên cứu. 10 Lịch sử giáo dục Việt Nam của tác giả Nguyễn Gia Phu, à L t, 1999 gồm 4 chương, trình bày giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến, thời Pháp thuộc và từ năm 1945 đến 1999 iểm cần nhấn m nh trong công trình này là cách phân kỳ của tác giả. Tác giả phân kỳ giáo dục Việt Nam theo tiêu chí mốc thời gian thực hiện các cuộc cải cách giáo dục như: giai đo n 1945 - 1950, 1950 - 1956, 1956 - 1981 và từ 1981 đến năm 1998, cũng như những thay đổi theo Luật Giáo dục.
Việc phân kỳ có những nét khác biệt so với các công trình khác là những gợi ý tham khảo có ích khi thực hiện đề tài. Sau 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước có sự phát triển vượt bậc, trong đó có sự phát triển m nh mẽ của giáo dục. Nằm trong xu thế chung của sự nghiệ đổi mới, nghiên cứu về giáo dục trong thế kỷ XXI đ t được nhiều thành tựu với những công trình nổi bật: Ban Khoa giáo Trung ương, Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - Chủ trương, thực hiện, đánh giá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, gồm một số văn kiện của ảng và Nhà nước về GD& T từ i hội đ i biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của ảng đến i hội đ i biểu toàn quốc lần thứ IX của ảng (2001) và một số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đ o ảng, Nhà nước trong năm 2001 Tiế đó, cuốn Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002 giới thiệu về chiến lược giáo dục trong giai đo n 2001 - 2010 của ảng và Nhà nước Việt Nam; tình hình giáo dục, bối cảnh, thời cơ và thách thức của nền giáo dục Việt Nam; các quan điểm chỉ đ o, các mục tiêu thực hiện chiến lược phát triển GD& T. Những công trình này cung cấp những chủ trương, chính sách của ảng và Nhà nước về phát triển GD& T, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình thực hiện Luận án.