Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 92.013) với đề tài "Giáo dục phổ thông tỉnh Lào Cai từ năm 1991 đến năm 2020" do nghiên cứu sinh Hà Trọng Thái thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Trần Đức Cường và TS. Duy Thị Hải Hường (Hà Nội, 2024).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là "quốc sách hàng đầu", là động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Lào Cai là tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế và quốc phòng, là địa bàn cư trú của 25 nhóm ngành dân tộc thiểu số (DTTS). Sau khi tái lập tỉnh vào tháng 10 năm 1991 (trên cơ sở chia tách từ tỉnh Hoàng Liên Sơn), Lào Cai bước vào thời kỳ xây dựng lại trong điều kiện vô cùng khó khăn, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục phổ thông (GDPT): trên 52% dân số mù chữ, 14 xã "trắng" về giáo dục, 101 xã chưa có trường trung học cơ sở (THCS), cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh biên giới năm 1979.
Trải qua 30 năm (1991 - 2020), Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách linh hoạt nhằm củng cố mạng lưới trường lớp, phát triển đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn. Mặc dù có một số công trình đề cập đến giáo dục Lào Cai ở các lát cắt cục bộ, nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, mang tính hệ thống và toàn diện về tiến trình lịch sử phát triển GDPT tỉnh Lào Cai trong suốt 30 năm (1991 - 2020). Việc nghiên cứu đề tài là yêu cầu cấp thiết nhằm làm sáng tỏ việc vận dụng đường lối đổi mới giáo dục của Đảng vào một tỉnh miền núi biên giới, đồng thời đúc rút những kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý giáo dục hiện nay.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Phục dựng lại quá trình phát triển GDPT tỉnh Lào Cai từ năm 1991 đến năm 2020; từ đó rút ra các nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm vận dụng vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ theo văn bản):
- Một là: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra những kết quả đã đạt được và xác định khoảng trống khoa học cần giải quyết.
- Hai là: Làm rõ các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống giáo dục, bối cảnh lịch sử và chủ trương, chính sách của Trung ương cũng như của tỉnh Lào Cai tác động đến GDPT địa phương từ năm 1991 đến năm 2020.
- Ba là: Phân tích, làm rõ thực trạng phát triển GDPT tỉnh Lào Cai qua hai giai đoạn lịch sử: 1991 - 2000 (10 năm đầu tái lập tỉnh) và 2001 - 2020 (hai thập niên đầu thế kỷ XXI) trên các mặt: đội ngũ giáo viên; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; quy mô trường lớp, học sinh; chất lượng, hiệu quả giáo dục; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) và phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT).
- Bốn là: Rút ra nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, làm rõ những đặc điểm cơ bản và đúc rút một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển GDPT tỉnh Lào Cai giai đoạn 1991 - 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ quá trình xây dựng và phát triển GDPT tỉnh Lào Cai từ năm 1991 đến năm 2020. Nội dung bao gồm: chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; sự vận dụng, chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Lào Cai; hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; ngân sách, chương trình giảng dạy; chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn và mô hình trường nội trú, bán trú.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Từ tháng 10 năm 1991 (thời điểm tái lập tỉnh Lào Cai) đến hết năm 2020 (mốc 30 năm phát triển GDPT gắn liền với 30 năm tái lập tỉnh). Mốc năm 2000 được chọn làm điểm phân kỳ giữa Chương 2 và Chương 3 nhằm đánh dấu kết thúc giai đoạn 10 năm đầu khôi phục, ổn định hệ thống.
- Không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Lào Cai qua các thời kỳ điều chỉnh địa giới (gồm thành phố Lào Cai, thị xã Sa Pa và các huyện: Bảo Thắng, Bảo Yên, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát, Văn Bàn).
- Nội dung: Tập trung vào ba cấp học phổ thông gồm Tiểu học, THCS và Trung học phổ thông (THPT), gắn với các loại hình trường công lập, trường PTDTNT và PTDTBT.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tư liệu và phân chia thành 4 nhóm công trình nghiên cứu chính:
| Nhóm công trình | Các tác giả và công trình tiêu biểu | Giá trị kế thừa và nội dung chính |
|---|---|---|
| 1. Nhóm nghiên cứu về giáo dục nói chung | - Hồ Chí Minh về giáo dục (1962), Bàn về công tác giáo dục (1972), Phạm Văn Đồng (1979). - Nguyễn Khánh Toàn (1991), Nền giáo dục Việt Nam - Lý luận và thực hành. - Vũ Xuân Ba, Phạm Duy Bình, Nguyễn Minh Đường (1995), Từ Bộ Quốc gia giáo dục đến Bộ Giáo dục và Đào tạo (1945 - 1995). - Phạm Minh Hạc (1991, 1995, 1996, 1999, 2011) với các công trình về đổi mới tư duy giáo dục và triết lý giáo dục. - Vũ Đình Cự (1998), Nguyễn Gia Phu (1999), Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Lê Văn Giạng (2003), Đặng Bá Lãm (2003), Bùi Minh Hiền (2004, 2019), Đinh Văn Ân và Trần Thu Hoà (2008), Nghiêm Đình Vỳ (2016), Phạm Minh Xuân (2017), Nguyễn Đắc Hưng (2017), Nguyễn Tiến Đạt (2018), Nguyễn Quốc Vương (2019), Đặng Quốc Bảo (2019, 2023), Trần Ngọc Thêm (2021). - Các luận án của Duy Thị Hải Hường (2014), Nguyễn Thị Hoa Phượng (2016), Phạm Thị Thu Hằng (2021), Nguyễn Thúy Quỳnh (2022). |
Cung cấp cơ sở lý luận, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục; phân tích lịch sử giáo dục Việt Nam qua các thời kỳ cải cách; cung cấp khung phân tích về phát triển giáo dục miền núi phía Bắc. |
| 2. Nhóm nghiên cứu về giáo dục phổ thông | - Nguyễn Anh Dũng (1996), luận án về chương trình môn Lịch sử phổ thông. - Đặng Thị Ánh Tuyết (2010), luận án xã hội học về bình đẳng giới học sinh THPT miền núi phía Bắc. - Nguyễn Thúy Quỳnh (2015), luận án về GDPT miền Bắc (1954 - 1975). - Nguyễn Thị Giang (2022), luận án về GDPT biên giới Đông Bắc (1954 - 1975). - Đinh Thị Phương Lan (2019), luận án quản lý giáo dục đối với học sinh DTTS. - Trương Hữu Hòa (2022), luận án về thể lực học sinh DTTS trung du và miền núi phía Bắc. - Đặng Thị Thanh Huyền (2001), chuyên khảo kinh nghiệm Nhật Bản. - Nguyễn Văn Thắng (2022), chuyên khảo GDPT tỉnh Thanh Hóa (1986 - 2006). - Trần Huy Hoàng (2023), giáo dục giá trị văn hóa cho học sinh phổ thông. |
Đưa ra các góc độ tiếp cận đa ngành (sử học, xã hội học, giáo dục học, quản lý giáo dục) về GDPT; phân tích kinh nghiệm phát triển mạng lưới trường lớp, đào tạo giáo viên và chính sách đặc thù cho học sinh DTTS. |
| 3. Nhóm nghiên cứu về Lào Cai có đề cập đến giáo dục | - Tỉnh ủy Lào Cai: Lào Cai - 10 năm đổi mới và phát triển (2001); Lào Cai - Một thế kỷ phát triển và hội nhập (2007); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai (1947 - 2007) (2010); 30 năm Lào Cai sáng tạo (2021); Lịch sử tỉnh Lào Cai (1991 - 2020) (2022). - Thành ủy Lào Cai: Lịch sử Đảng bộ thành phố Lào Cai (1950 - 2020) (2020). - Hứa Tân Hưng (2023), Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển tỉnh Lào Cai. - Luận án của Nguyễn Thị Nguyền (2013) về chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai (1991 - 2010); Nguyễn Thị Vân Hằng (2014) về đào tạo nguồn nhân lực (2001 - 2010). |
Cung cấp bức tranh tổng thể về bối cảnh tự nhiên, dân cư, kinh tế, chính trị, văn hóa của Lào Cai; ghi nhận các mốc lịch sử phát triển của Đảng bộ và số liệu kinh tế - xã hội liên quan đến giáo dục qua từng thời kỳ. |
| 4. Nhóm nghiên cứu trực tiếp về giáo dục Lào Cai | - Nguyễn Quang Kính (chủ biên, 2005), Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005 (dành 20 trang từ tr. 402 - 421 viết về chặng đường phát triển giáo dục Lào Cai). - Sở GD&ĐT Lào Cai và Hội Cựu giáo chức (2015), Kỷ yếu lịch sử GD&ĐT tỉnh Lào Cai (1945 - 2014). - Tỉnh ủy Lào Cai (2018), Kỷ yếu Hội thảo kinh nghiệm phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo sau 25 năm tái lập (1991 - 2016) gồm 26 bài tham luận. |
Ghi nhận tư liệu lịch sử ngành giáo dục Lào Cai qua các giai đoạn, phản ánh những mô hình sáng tạo của địa phương (như đưa lớp học về thôn bản, trường điển hình). |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Mặc dù các công trình nêu trên đã phản ánh những khía cạnh nhất định, nhưng đa phần chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chung cả nước, khảo cứu một giai đoạn trước năm 1991, hoặc chỉ tiếp cận giáo dục Lào Cai dưới dạng kỷ yếu tóm lược, báo cáo ngành hay các bài tham luận hội thảo mang tính điểm diện. Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về quá trình phát triển GDPT tỉnh Lào Cai trong trọn vẹn 30 năm (1991 - 2020). Luận án của Hà Trọng Thái giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng đầy đủ tiến trình lịch sử, phân tích các yếu tố tác động, làm rõ thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm có cơ sở khoa học vững chắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Phương pháp luận: Dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về GD&ĐT (đặc biệt là quan điểm: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", "Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển").
- Khung khái niệm: Khái niệm GDPT được xác định căn cứ theo hệ thống pháp luật giáo dục Việt Nam, gồm 3 cấp học:
- Giáo dục tiểu học: 5 năm học (từ lớp 1 đến lớp 5), độ tuổi quy định từ 6 đến 11 tuổi.
- Giáo dục trung học cơ sở: 4 năm học (từ lớp 6 đến lớp 9), độ tuổi quy định từ 11 đến 15 tuổi.
- Giáo dục trung học phổ thông: 3 năm học (từ lớp 10 đến lớp 12), độ tuổi quy định từ 15 đến 18 tuổi.
- Quy định điều chỉnh linh hoạt về độ tuổi đối với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, học sinh khuyết tật.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành lịch sử, trong đó kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Là hai phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện trung thực, khách quan quá trình phát triển của GDPT tỉnh Lào Cai theo trình tự thời gian gắn liền với không gian lịch sử cụ thể, đồng thời vạch ra bản chất, xu hướng vận động và các quy luật phát triển nội tại của mạng lưới giáo dục vùng cao.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thẩm định, xử lý, phân tích các nguồn tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết ngành và văn bản chỉ đạo của địa phương, sau đó tổng hợp thành hệ thống luận cứ khoa học để phục vụ đánh giá thực trạng từng giai đoạn.
- Phương pháp so sánh: So sánh thực trạng GDPT Lào Cai qua hai giai đoạn (1991 - 2000 và 2001 - 2020); đối sánh sự phát triển giữa các vùng thuận lợi và vùng khó khăn trong tỉnh; so sánh kết quả của Lào Cai với một số tỉnh miền núi phía Bắc nhằm làm rõ nét đặc thù và bước chuyển biến của địa phương.
- Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi số liệu định lượng về số lượng trường lớp, phòng học kiên cố, quy mô học sinh các cấp, tỷ lệ huy động trẻ đến trường, tỷ lệ phổ cập giáo dục, trình độ chuẩn hóa của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, thành tích thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến đánh giá của các nhà khoa học, chuyên gia lịch sử, cán bộ quản lý giáo dục giàu kinh nghiệm tại địa phương và Trung ương.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn kiện chỉ đạo của Trung ương: Văn kiện Đảng toàn tập (giai đoạn 1991 - 2020), Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011), các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ về giáo dục miền núi, GDPT.
- Tài liệu lưu trữ: Khai thác tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Văn phòng Tỉnh ủy Lào Cai, Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai và Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai.
- Báo cáo tổng kết thực tiễn: Báo cáo tổng kết năm học, báo cáo chuyên đề, kỷ yếu hội thảo, số liệu thống kê định kỳ của Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai, Phòng GD&ĐT các huyện, thị xã, thành phố từ năm 1991 đến năm 2020.
- Tài liệu xuất bản: Các công trình địa chí, lịch sử Đảng bộ, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 4 nhóm nội dung lớn:
- Đánh giá thành tựu nghiên cứu về lý luận giáo dục, lịch sử giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
- Phân tích các công trình nghiên cứu chuyên biệt về GDPT tại Việt Nam và khu vực miền núi phía Bắc dưới nhiều góc độ tiếp cận (lịch sử, quản lý giáo dục, giáo dục học, xã hội học).
- Khảo sát các công trình lịch sử địa phương, lịch sử Đảng bộ tỉnh và thành phố Lào Cai, các đề tài về kinh tế - xã hội có đề cập đến vai trò của nguồn nhân lực và GD&ĐT.
- Đánh giá các tài liệu, kỷ yếu của ngành giáo dục Lào Cai; từ đó chỉ rõ những kết quả đã được giải quyết, khẳng định tính nguyên bản của đề tài và xác định nhiệm vụ khoa học mà luận án thực hiện.
Chương 2: Giáo dục phổ thông tỉnh Lào Cai từ năm 1991 đến năm 2000
Chương 2 làm rõ bối cảnh tái lập tỉnh và sự phát triển của GDPT trong thập niên đầu tiên (1991 - 2000):
Các yếu tố tác động đến GDPT Lào Cai
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Lào Cai có diện tích tự nhiên khi tái lập là 8.044 km² (năm 2020 là 6.364,25 km²), địa hình núi cao chia cắt mạnh bởi dãy Hoàng Liên Sơn (đỉnh Phan Si Păng cao 3.143 m), dãy núi Con Voi và cao nguyên Bắc Hà; hệ thống sông Hồng (đoạn qua tỉnh dài 140 km) và sông Chảy (dài 120 km) tạo ra sự chia cắt sâu sắc. Toàn tỉnh phân bổ thành 3 khu vực kinh tế (Khu vực 1 thuận lợi; Khu vực 2 khó khăn; Khu vực 3 đặc biệt khó khăn). Dân số năm 1991 là 488.844 người, đến năm 2000 là 609.173 người với 25 dân tộc, tỷ lệ đói nghèo năm 1991 lên tới 60%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 3,5%, tập quán du canh du cư còn tồn tại.
- Truyền thống giáo dục: Trước năm 1945, giáo dục tại Lào Cai rất hạn chế, chữ viết truyền thống chủ yếu là Nôm Tày, Nôm Dao trong phạm vi hẹp; thời Pháp thuộc chỉ có một số trường sơ học và trường tiểu học nhỏ tại tỉnh lỵ, đến năm 1945 toàn tỉnh chỉ có 7 người đỗ bằng Điplôm. Thời kỳ thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn (1975 - 1991), giáo dục có bước duy trì nhưng gặp nhiều khó khăn, thực hiện mô hình lớp ghép và phong trào hỗ trợ từ các tỉnh đồng bằng.
- Bối cảnh lịch sử và hậu quả chiến tranh biên giới 1979: Hậu quả cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 tàn phá nặng nề: 67/90 xã, phường bị phá hủy; phá hủy 253.648 m² nhà xây, đốt cháy 5.781 ngôi nhà gỗ, làm 60.000 người mất nhà ở; phá hủy 7 bệnh viện lớn, 1.302 phòng học khiến 34.954 học sinh không còn chỗ học; làm chết 596 người, bị thương 212 người và 500 người bị bắt.
- Chủ trương, chính sách: Trung ương ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW (1987) của Bộ Chính trị về miền núi; Nghị quyết Đại hội VII (1991); Nghị quyết số 04-NQ/HNTW (1993) của Hội nghị Trung ương 4 khóa VII; Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996). Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Lào Cai đã cụ thể hóa bằng các đề án cấp bách để khôi phục ngành giáo dục.
Số liệu thiệt hại của giáo dục và cơ sở hạ tầng tỉnh Lào Cai do chiến tranh biên giới 1979:
- Xã, phường bị tàn phá: 67 / 90 đơn vị
- Phòng học bị phá hủy hoàn toàn: 1.302 phòng
- Học sinh mất chỗ học: 34.954 học sinh
- Nhà xây bị phá hủy: 253.648 m²
- Nhà gỗ, tranh tre bị thiêu rụi: 5.781 ngôi nhà
- Người dân bị mất nhà ở: 60.000 người
Thực trạng GDPT tỉnh Lào Cai giai đoạn 1991 - 2000
- Đội ngũ giáo viên: Khắc phục tình trạng thiếu hụt trầm trọng bằng cách tuyển dụng khẩn cấp, điều động giáo viên miền xuôi lên công tác, mở các lớp đào tạo sư phạm cấp tốc, thực hiện chính sách đãi ngộ, hỗ trợ sinh hoạt vùng cao.
- Cơ sở vật chất, trường lớp: Tập trung xóa phòng học tạm, tranh tre nứa lá; vận động nhân dân đóng góp công sức xây dựng phòng học bằng vật liệu địa phương; từng bước kiên cố hóa trường lớp học tại các trung tâm cụm xã.
- Quy mô học sinh và phổ cập giáo dục: Từng bước xóa các "xã trắng" về giáo dục; tổ chức các lớp học linh hoạt, lớp ghép 2 - 3 trình độ tại các thôn bản xa xôi; triển khai quyết liệt công tác Phổ cập giáo dục Tiểu học - Chống mù chữ (TH-CMC).
- Chất lượng giáo dục: Kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia ở cấp tiểu học và THPT từng bước được ghi nhận qua các biểu đồ thống kê từ năm học 1991-1992 đến 2000-2001 (Biểu đồ 2.1 đến 2.5 trong văn bản).
- Hệ thống trường PTDTNT, bán trú: Thành lập và củng cố Trường PTDTNT tỉnh, hệ thống trường PTDTNT cấp huyện và bước đầu hình thành các điểm trường bán trú dân nuôi nhằm tạo nguồn đào tạo cán bộ người DTTS.
Thực trạng giáo dục tỉnh Lào Cai tại thời điểm tái lập tỉnh (tháng 10/1991):
- Tỷ lệ mù chữ: Trên 52% dân số
- Số người mù chữ trong độ tuổi 15 - 25: 43.000 người
- Số xã "trắng" hoàn toàn về giáo dục: 14 xã
- Số xã chưa có trường THCS: 101 xã
- Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường: Chỉ đạt từ 6% đến 40%
- Trường sư phạm, trường PTDTNT cấp tỉnh: 0 trường (chưa có)
Chương 3: Giáo dục phổ thông tỉnh Lào Cai từ năm 2001 đến năm 2020
Chương 3 trình bày quá trình phát triển GDPT tỉnh Lào Cai trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng toàn diện:
- Bối cảnh và nhân tố tác động mới: Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010; Nghị quyết số 29-NQ/TW (Khóa XI, năm 2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; sự phát triển kinh tế cửa khẩu, công nghiệp khai khoáng và du lịch của tỉnh Lào Cai tạo nguồn lực đầu tư cho giáo dục.
- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL): Trình độ chuyên môn của CBQL, giáo viên, nhân viên cấp THCS và THPT có bước nhảy vọt, đạt tỷ lệ chuẩn và trên chuẩn rất cao trong giai đoạn 2015 - 2020 (minh họa qua các Biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3, 3.4).
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: Triển khai Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên; thống kê đầu tư xây dựng phòng học THPT giai đoạn 2005 - 2010 (Biểu đồ 3.5); trang bị phòng máy tính, phòng học bộ môn, thiết bị công nghệ thông tin phục vụ giảng dạy.
- Quy mô trường lớp và học sinh: Mạng lưới trường lớp được quy hoạch, sắp xếp lại hợp lý; số lượng trường học và học sinh các cấp Tiểu học, THCS, THPT tăng trưởng ổn định qua các năm học từ 2015-2016 đến 2019-2020 (Biểu đồ 3.6, 3.7, 3.8).
- Chất lượng và hiệu quả giáo dục:
- Hoàn thành đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, mức độ 3.
- Chất lượng giáo dục đại trà chuyển biến rõ nét; kết quả thi tốt nghiệp THPT và tỷ lệ học sinh đỗ đại học tăng đều qua các năm.
- Giáo dục mũi nhọn khẳng định vị thế với số lượng và chất lượng giải học sinh giỏi quốc gia (HSGQG) của Trường THPT Chuyên Lào Cai; triển khai các mô hình giáo dục sáng tạo như mô hình trường học mới (VNEN), mô hình "Trường học sinh thái", "Trường học gắn với thực tiễn du lịch, nông nghiệp".
- Hệ thống trường PTDTNT và PTDTBT: Hệ thống trường PTDTNT được đầu tư đồng bộ; mạng lưới trường PTDTBT phát triển mạnh mẽ theo Nghị định của Chính phủ, trở thành giải pháp cốt lõi để duy trì tỷ lệ chuyên cần của học sinh vùng cao.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng hợp các nhận xét, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm:
Nhận xét chung
- Thành tựu: Sau 30 năm, GDPT Lào Cai đã xóa bỏ hoàn toàn tình trạng "xã trắng giáo dục", hoàn thành phổ cập giáo dục các cấp học đúng độ tuổi; xây dựng được mạng lưới trường lớp phủ kín khắp các thôn bản vùng cao; cơ sở vật chất từ tranh tre chuyển sang kiên cố, cao tầng; đội ngũ giáo viên trưởng thành cả về số lượng và chất lượng; GDPT đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực địa phương.
- Hạn chế và khó khăn: Chênh lệch chất lượng giáo dục giữa vùng thấp (thành phố, thị trấn) và vùng cao (vùng đồng bào DTTS) vẫn còn khoảng cách; cơ sở vật chất ở một số điểm trường lẻ vùng sâu còn thiếu thốn; tình trạng thiếu cục bộ giáo viên chuyên môn (ngoại ngữ, tin học, nghệ thuật); nguy cơ tái mù chữ và bỏ học ở một số vùng đặc biệt khó khăn vào mùa giáp hạt hoặc mùa nương rẫy.
5 bài học kinh nghiệm lịch sử
- Luôn quán triệt sâu sắc mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục phổ thông vào thực tiễn tỉnh Lào Cai: Vận dụng sáng tạo, kịp thời ban hành các nghị quyết chuyên đề, đề án của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh sát hợp với điều kiện địa phương.
- Chú trọng duy trì giáo dục phổ thông đại trà gắn với phát triển giáo dục phổ thông mũi nhọn: Đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục cho con em đồng bào DTTS, đồng thời tập trung đầu tư cho trường chuyên, trường trọng điểm để bồi dưỡng nhân tài.
- Chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên phổ thông đủ về số lượng, từng bước nâng cao về chất lượng; quan tâm đời sống vật chất và tinh thần nhà giáo: Coi nhà giáo là nhân tố quyết định thành công của giáo dục vùng cao; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi, phụ cấp thu hút.
- Có quyết tâm cao, bền bỉ và sáng tạo trong phát triển giáo dục phổ thông vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Kiên trì vận động học sinh ra lớp; tổ chức hiệu quả mô hình trường PTDTNT, trường PTDTBT và các điểm trường thôn bản; gắn nội dung dạy học với thực tiễn đời sống văn hóa, sản xuất của đồng bào.
- Luôn chú trọng công tác xã hội hóa giáo dục phổ thông: Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động các nguồn lực xã hội, sự đồng thuận của nhân dân và các tổ chức đoàn thể để đầu tư cơ sở vật chất trường lớp học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ tiến trình hiện thực hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về GD&ĐT tại một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc trong thời kỳ đổi mới (1991 - 2020).
- Cung cấp các luận cứ khoa học khẳng định vai trò quyết định của GDPT đối với việc phát triển nguồn nhân lực, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh quốc phòng và thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng biên cương.
- Làm rõ tính quy luật và đặc điểm của quá trình phát triển giáo dục ở một địa bàn đa dân tộc, xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp và chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khai thác, tập hợp và hệ thống hóa một khối lượng lớn tư liệu lưu trữ có giá trị từ Trung ương đến địa phương (nhiều tài liệu của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai lần đầu tiên được khai thác và công bố một cách có hệ thống).
- Phục dựng bức tranh lịch sử toàn diện, khách quan về 30 năm xây dựng và phát triển của GDPT tỉnh Lào Cai qua hai giai đoạn cụ thể (1991 - 2000 và 2001 - 2020).
- Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cao, cung cấp cơ sở khoa học để các cấp ủy Đảng, chính quyền và cơ quan quản lý giáo dục tỉnh Lào Cai cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc tham khảo, vận dụng trong hoạch định chính sách phát triển GDPT giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án được triển khai dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, do đó tập trung chủ yếu vào việc tái hiện tiến trình lịch sử, cơ chế chính sách, quy mô phát triển mạng lưới trường lớp và đội ngũ; chưa đi sâu phân tích chi tiết các vấn đề thuần túy về phương pháp sư phạm của từng môn học cụ thể hay đánh giá tâm lý học giáo dục đối với từng nhóm học sinh dân tộc thiểu số. Phạm vi nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2020 theo giới hạn thời gian của đề tài.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu quá trình triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại tỉnh Lào Cai từ năm 2020 đến nay.
- Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả của mô hình trường PTDTBT trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ.
- Khảo sát, so sánh toàn diện kinh nghiệm phát triển GDPT giữa các tỉnh thuộc vùng Trung du và Miền núi Bắc Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Quản lý giáo dục, Giáo dục học và Dân tộc học khi nghiên cứu về lịch sử địa phương và chính sách giáo dục vùng dân tộc thiểu số.
- Giảng viên, giáo viên: Phục vụ công tác giảng dạy môn Lịch sử địa phương tỉnh Lào Cai, giảng dạy học phần Lịch sử giáo dục Việt Nam tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm.
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên quản lý giáo dục: Giúp lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Sở GD&ĐT tỉnh Lào Cai và các tỉnh miền núi tham khảo trong việc hoạch định chính sách giáo dục vùng cao, chính sách đối với nhà giáo và phát triển hệ thống trường PTDTNT, PTDTBT.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại thời điểm tái lập tỉnh Lào Cai (tháng 10/1991), thực trạng giáo dục phổ thông của tỉnh gặp những khó khăn gì?
Khi tái lập tỉnh vào tháng 10/1991 (tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn), GDPT Lào Cai rơi vào tình trạng suy thoái và thiếu thốn nghiêm trọng:
- Số người mù chữ chiếm trên 52% dân số; số người mù chữ trong độ tuổi 15 - 25 là 43.000 người (chiếm tỷ lệ 1/15 dân số toàn tỉnh).
- Toàn tỉnh có 14 "xã trắng" hoàn toàn về giáo dục; 101 xã chưa có trường THCS; hầu hết các trường tiểu học vùng cao chưa có lớp 5.
- Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường chỉ đạt từ 6% đến 40%.
- Chưa có xã nào đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ.
- Toàn tỉnh chưa có trường sư phạm, chưa có trường PTDTNT và các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp; đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn.
2. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 đã để lại hậu quả như thế nào đối với ngành giáo dục tỉnh Lào Cai?
Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đã tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng và dân sinh của tỉnh, trực tiếp ảnh hưởng lâu dài đến giáo dục:
- Phá hủy hoàn toàn 1.302 phòng học, làm 34.954 học sinh không còn chỗ học.
- 67/90 xã, phường, khu phố bị tàn phá; 7 bệnh viện lớn bị phá hủy.
- Thiêu rụi 253.648 m² nhà xây và 5.781 ngôi nhà gỗ, tranh tre, làm cho 60.000 người dân mất nhà ở.
- Khiến 596 người dân thiệt mạng, 212 người bị thương và 500 người bị bắt, nhiều cơ sở trường học bị xóa sổ hoàn toàn.
3. Luận án phân chia tiến trình phát triển GDPT tỉnh Lào Cai thành những giai đoạn nào và căn cứ phân chia là gì?
Luận án phân chia tiến trình phát triển thành 2 giai đoạn chính tương ứng với Chương 2 và Chương 3:
- Giai đoạn 1991 - 2000 (Chương 2): Mười năm đầu tái lập tỉnh, tập trung giải quyết các nhiệm vụ cấp bách: xóa "xã trắng giáo dục", xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, ổn định mạng lưới trường lớp, xây dựng đội ngũ giáo viên và hình thành các trường PTDTNT.
- Giai đoạn 2001 - 2020 (Chương 3): Hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chuyển sang giai đoạn củng cố vững chắc, kiên cố hóa trường lớp, đạt chuẩn phổ cập THCS, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển giáo dục mũi nhọn và mở rộng hệ thống trường PTDTBT.
4. Tác giả đã đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử nào từ 30 năm phát triển GDPT Lào Cai?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm cơ bản:
- Luôn quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GDPT vào điều kiện thực tiễn địa phương.
- Chú trọng duy trì giáo dục phổ thông đại trà gắn liền với phát triển giáo dục mũi nhọn.
- Chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên đủ số lượng, nâng cao chất lượng và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhà giáo.
- Quyết tâm cao, bền bỉ và sáng tạo trong phát triển giáo dục vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Luôn coi trọng và thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục.
5. Hệ thống trường PTDTNT và PTDTBT có vai trò như thế nào trong sự phát triển GDPT tại Lào Cai?
Theo luận án, trường PTDTNT và PTDTBT là loại hình trường chuyên biệt có vị trí then chốt:
- Giải quyết triệt để rào cản về khoảng cách địa lý, địa hình núi cao chia cắt và điều kiện thời tiết khắc nghiệt khiến học sinh khó đến trường.
- Nâng cao tỷ lệ chuyên cần, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học ở các thôn bản vùng sâu, vùng biên giới.
- Là vườn ươm tạo nguồn cán bộ cơ sở và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ là người dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Lịch sử của tác giả Hà Trọng Thái là công trình khoa học chuyên khảo đã phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh lịch sử 30 năm (1991 - 2020) xây dựng và phát triển giáo dục phổ thông tỉnh Lào Cai. Bằng việc xử lý nguồn tư liệu lưu trữ phong phú và kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành, luận án đã làm rõ những chuyển biến của giáo dục Lào Cai từ một tỉnh có xuất phát điểm rất thấp trở thành điểm sáng giáo dục vùng cao phía Bắc. Công trình khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đổi mới giáo dục của Đảng, đồng thời cung cấp 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho công tác quản lý giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay.