Chương 1: Khái quát về tỉnh Tuyên Quang và tình hình giáo dục tỉnh Tuyên Quang trước năm 1986 Chương 2: Giáo dục trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 1986 - 2010 Chương 3: Những thành tựu và hạn chế của giáo dục trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 1986-2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TUYÊN QUANG VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TỈNH TUYÊN QUANG TRƢỚC NĂM 1986 1. Vài nét về tỉnh Tuyên Quang 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tuyên Quang là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Tổ quốc Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 21029’ đến 22042’ vĩ Bắc và 104050’ đến 105036’ kinh Đông.
Phía bắc giáp tỉnh Hà Giang từ xã Bạch Xa huyện Hàm Yên đến xã Sinh Long huyện Na Hang có ranh giới dài 151 km, phía nam giáp tỉnh Phú Thọ từ xã Ninh Lai huyện Sơn Dương đến xã An Khê huyện Yên Sơn có ranh giới dài 80 km. Phía đông giáp các tỉnh Bắc Cạn và Thái Nguyên từ xã Thượng Giáp huyện Na Hang đến xã Thiện Kế huyện Sơn Dương có ranh giới dài 171 km, phía đông bắc giáp tỉnh Cao Bằng. Phía tây giáp tỉnh Yên Bái từ xã Chân Sơn huyện Yên Sơn đến xã Yên Hương huyện Hàm Yên có ranh giới dài 80 km Tuyên Quang có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng. Từ Tuyên Quang có thể có thể xuôi về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng bắc bộ, sang Thái Nguyên ở phía đông, sang Yên Bái và các tỉnh Tây Bắc, ngược lên Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang đến biên giới Việt Trung một cách dễ dàng để trao đổi kinh tế, giao lưu văn hóa với các tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh thuộc trung du, đồng bằng sông Hồng ở phía Nam.
Ngoài ra thông qua đường sông, chủ yếu là sông Lô, việc giao lưu có thể diễn ra trong nội tỉnh và với các tỉnh khác ở mức độ nhất định. Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, là “trấn biên”che chở cho “kinh trấn”. Tuyên Quang xưa và nay luôn luôn làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua các giai đoạn lịch sử, nhân dân các dân tộc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Tuyên Quang luôn thể hiện rõ tinh thần chiến đấu ngoan cường chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.
Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự là thủ đô Khu giải phóng, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ đã ở và làm việc, nơi đã diễn ra những sự kiện lịch sử trọng đại quyết định vận mệnh của dân tộc làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám, đưa dân tộc ta tiến lên vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tuyên Quang là thủ đô kháng chiến, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã góp phần cùng quân, dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang vừa ngoan cường chiến đấu bảo vệ vững chắc quê hương, vừa làm tròn nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến lớn, góp phần vào chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1976, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Điều kiện tự nhiên Tuyên Quang có diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.870 km2, trong đó rừng núi chiếm 4/5 (73,2%), đất nông nghiệp chiếm 20%, còn lại 6,8% là các loại đất khác.
Địa hình ở Tuyên Quang tương đối đa dạng, phức tạp, bị chia cắt lớn bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, núi đồi trùng điệp, thung lũng sâu và phân chia thành hai vùng khá rõ nét. Vùng cao phía Bắc rộng 291.497 ha chiếm 50,3% diện tích toàn tỉnh, có độ cao trung bình là 600m so với mặt nước biển, bao gồm toàn bộ huyện Na Hang, 11 xã của huyện Chiêm Hóa, 3 xã thuộc huyện Yên Sơn, 2 xã thuộc huyện Hàm Yên và 32 bản khác. Cư dân vùng này chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người, dân cư thưa, ngành kinh tế chủ lực là các nguồn lợi từ rừng, trồng cây lương thực và chăn nuôi đại gia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Giao thông đi lại còn khó khăn, trình độ mọi mặt còn thấp so với các vung khác.
Vùng thấp ở phía Nam chiếm 49,7% diện tích toàn tỉnh gồm các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương, là vùng đồi núi thấp, các soi bãi rộng, màu mỡ cùng các thung lũng lớn như: thung lũng Tuyên Quang có sông Lô chảy qua, thung lũng Sơn Dương có sông Phó Đáy chảy qua, thung lũng Yên Bình có sông Chảy chảy qua.Đây là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế nhất của tỉnh, giao thông khá phát triển, cư dân chủ yếu là đồng bào kinh, tày.có trình độ mọi mặt khá, mũi nhọn kinh tế của vùng này là cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi và khai thác khoáng sản. Nằm trên vòng cung Ngân Sơn, Tuyên Quang có nhiều sông suối đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có 3 sông lớn chảy qua là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy. Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc sau khi xuyên dọc địa phận Hà Giang, sông Lô chảy qua Tuyên Quang xuôi về Phú Thọ hợp với sông Hồng ở Việt Trì, đây là đường thủy duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang (phía bắc), với thủ đô Hà Nội và các tỉnh trung du, đồng bằng bắc bộ. Sông Gâm cũng bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Cao Bằng, Hà Giang rồi đổ vào Na Hang, Chiêm Hóa hợp với sông Lô ở ngã ba Hòn Lau (Yên Sơn) cách thành phố Tuyên Quang 10km, là đường thủy nối các huyện Na Hang, Chiêm Hóa với tỉnh lỵ.
Sông Phó Đáy bắt nguồn từ núi Tam Tạo thuộc huyện Chợ Đồn (Bắc Cạn) chảy qua huyện Yên Sơn, Sơn Dương theo hướng Bắc – Nam hợp với sông Lô trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Ngoài ba sông chính ở Tuyên Quang còn có các con sông nhỏ như sông Năng ở Na Hang cùng hàng trăm ngòi lạch như: ngòi Bắc Nhụng, ngòi Cổ Linh, ngòi Chinh, ngòi Quẵng, ngòi Là, ngòi Sình.và nhiều con suối nhỏ len lách vào giữa vùng đồi núi trùng điệp, tạo thành một mạng lưới sông ngòi dày đặc. Sông ngòi Tuyên Quang có giá trị kinh tế rất lớn, nó vừa là một bộ phận quan trọng của hệ thống đường giao thông, vừa cung cấp nước, thủy sản phục vụ đời sống, sản xuất và chứa đựng tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 Núi, đồi Tuyên Quang chiếm 73,2% diện tích toàn tỉnh, chụi sự chi phối bắc, dãy Ba Xứ.và có nhiều đỉnh cao như núi Chặm Chu (1.
Núi đồi Tuyên Quang phần lớn được bao phủ bởi một thảm thực vật nhiệt đới khá dày và phong phú về chủng loại. Đất của Tuyên Quang khá đa dạng, nhìn chung tầng đất tương đối dày, hàm lượng dinh dưỡng thuộc loại trung bình và khá. Trừ một số loại đất phù sa sông suối và đất lầy thụt ở các thung lũng, còn lại chủ yếu là đất feralit chiếm 85% diện tích cả tỉnh. Tuyên Quang nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn, độ ẩm cao, lượng chiếu sáng lớn, chia thành hai mùa rõ rệt và hay thay đổi thất thường.
Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 28ºC, mùa rét từ tháng 10 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình 16ºC có lúc xuống dưới 10ºC. Điều kiện khí hậu trên đã tạo thuận lợi cho thảm thực vật phát triển, nhất là rừng, cây dược liệu và cây công nghiệp. Trên rừng có nhiều loại gỗ tốt như: đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát, pơmu.và bạt ngàn tre, nứa, song, mây.cùng các loại cây dược liệu như: sa nhân, ba kích, thục, sâm.các đặc sản như nấm hương, mộc nhĩ, mật ong.cùng nhiều loại muông thú: hổ, báo, gấu, trăn, tắc kè, nhím, hươu nai, lợn rừng, đặc biệt là vọoc mũi hếch – một loại thú có tên trong danh mục bảo vệ động vật hiếm trên thế giới. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Tuyên Quang một nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có như: vàng, thiếc, kẽm, ba rít, pi sít, ăngtimoan, măng gan, cao lanh, than đá.và các loại cát, sỏi, đá vôi, đất chụi lửa.Đó là nguồn khoáng sản vô giá, cho phép địa phương phát triển, làm giàu bằng ngành công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng Tuyên Quang có hệ thống đường bộ khá phát triển: quốc lộ 2 (Hà Nội – Hà Giang, dài hơn 300km) là con đường huyết mạch nối Tuyên Quang với tỉnh biên giới Hà giang và các tỉnh, thành phố miền xuôi; quốc lộ 37 từ Bờ Đậu (Thái Nguyên) qua Tuyên Quang sang Yên Bái; đường từ thành phố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 Tuyên Quang về Sơn Dương qua đèo Khuôn Do xuôi về Vĩnh Yên; đường 174 và 176 từ km 31 (Thái Sơn-Hàm Yên) qua Chiêm Hóa lên Na Hang và từ đó có thể lên Hà Giang hoặc sang Cao Bằng.
Ngoài ra còn có nhiều đường liên xã, liên thôn, đường dân sinh, đường lâm nghiệp nối các điểm dân cư, các vùng kinh tế với nhau. Những con đường này là yếu tố góp phần quyết định sự giao lưu kinh tế, văn hóa.giữa các vùng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, ngoài ra nó tạo nên sự linh hoạt, cơ động trong tác chiến khi có chiến tranh. Trong quá trình cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, vượt qua bao khó khăn, thử thách, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, chính quyền địa phương, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã từng bước khai thác, phát huy thế mạnh của địa phương làm biến đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh. Tính đến ngày 1-4-1999 dân số toàn tỉnh là 675.110 người gồm 22 dân tộc anh em, đông nhất là dân tộc kinh và dân tộc Tày.
Tổng sản phẩm (GDP) là 1.585 triệu đồng, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là 808.120 triệu đồng, tổng thu ngân sách trên địa bàn của tỉnh là 97. Sự nghiệp văn hóa, xã hôi, giáo dục của tỉnh đang có những bước phát triển ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu chung của địa phương.