Chương 1. Khái quát về huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa và tình hình giáo dục phổ thông Bá Thước trước năm 1986 Chương 2. Giáo dục phổ thông huyện Bá Thước từ năm 1986 đến năm 2000 Chương 3. Giáo dục phổ thông huyện Bá Thước từ năm 2000 đến năm 2020 6 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT BÁ THƢỚC VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN BÁ THƢỚC TRƢỚC 1986 1.
Khái quát về vùng đất huyện B Thƣớc 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Huyện Bá Thước nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên 77. Phía bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn tỉnh H a Bình; phía đông giáp huyện Thạch Thành và Cẩm Thủy; phía nam giáp huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh; phía tây giáp huyện Quan Sơn và Quan Hóa. Huyện Bá Thước nằm trong tọa độ địa lý: Điểm cực bắc ở vĩ độ 20034‟32‟‟ bắc, thuộc địa phận bản Kịt, xã Lũng Cao; điểm cực nam ở vĩ độ 20011‟11‟‟ bắc, thuộc địa phận làng Xay, xã Điền Thượng; điểm cực tây bắc có tọa độ 10504‟ đông, thuộc địa phận bản Eo Kén, xã Thành Sơn; điểm cực tây nam có tọa 105o4‟2‟‟ đông thuộc địa phận bản Pặt, xã Kỳ Tân.
Điểm cực đông có tọa độ 10505‟42‟‟ kinh độ đông, thuộc địa phận làng Xón, xã Lương Nội. Trung tâm huyện lỵ Bá Thước đóng tại thị trấn Cành Nàng, cách thành phố Thanh Hóa 108km về phía tây bắc. Trong tiến trình lịch sử, cộng đồng các dân tộc Thái, Mường, Kinh từ Tây Bắc, Hòa Bình, Ninh Bình và các huyện trong tỉnh về đây sinh sống đã tạo nên diện mạo của vùng đất Bá Thước vừa phong phú về sinh hoạt vật chất, vừa thể hiện tính đậm đà bản sắc văn hóa của riêng mình, mở ra nhiều tiềm năng phát triển cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh [2; tr. Về địa hình, đất đai Bá Thước là khu vực chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống vùng núi thấp.
Hướng địa hình và độ dốc nghiêng từ tây - bắc xuống đông - nam. Các dãy núi phía tây bắc có đỉnh cao hơn một nghìn mét, như dãy đá vôi Son Bá Mười cao trung bình 1.200m, đỉnh Pu Luông 1.598m, đỉnh Pu Tên 1. Trong khi đó, các ngọn đồi phía đông nam, giáp huyện Cẩm Thủy và Ngọc Lặc có độ cao trung bình 600m; các thung lũng vùng Hồ Điền, Quý Lương chỉ cao hơn mực nước biển 50 - 60m. Tuy nhiên, ven theo địa giới tự nhiên của huyện 7 là những sống núi cao liên tiếp như một vòng thành khép kín, chỉ để trừ ra những hẻm núi, hẻm sông thông với huyện khác.
Địa giới, đồng thời cũng là đường phân thủy. Nước chảy trên bề mặt diện tích huyện Bá Thước đều dồn về phía trung tâm và đổ ra sông Mã, chỉ trừ một ít ở Điền Hạ chảy về phía Cẩm Thủy. Bá Thước có địa hình đồi núi chia cắt, hướng núi lộn xộn, thành phần địa chất không đồng nhất, hình thành môi trường sinh thái đa dạng. D ng sông Mã chia đôi huyện thành hai khu vực có những đặc điểm khác nhau: bắc sông Mã và nam sông Mã [2; tr.
Về đất đai. Bá Thước có 14 loại đất khác nhau và chia thành 4 nhóm: đất thung lũng sông suối; đất đỏ vàng trên đồi núi thấp; đất mùn vàng trên núi và đất xói mòn. Đất thung lũng sông suối là loại đất tốt giàu chất dinh dưỡng, thích hợp trồng lúa và hoa màu. Đất đỏ vàng, trên đồi núi thấp chủ yếu là đất feralit màu nâu đỏ thích hợp trồng các loại cây công nghiệp lâu năm như: cao su, chè, các cây lâm nghiệp.
Ngoài ra, trong nhóm đất này còn có loại đất đỏ vàng biến đổi, phù hợp với việc canh tác ruộng bậc thang để trồng lúa nước, tạo nên sự khác biệt giữa Bá Thước với các huyện miền xuôi. Đất mùn vàng trên núi giữ ẩm tốt, giàu mùn, đất tơi xốp thích hợp trồng cây lâm nghiệp, rừng gỗ, rừng tre nứa, luồng. Những vùng này có độ dốc thấp, loại đất này có thể trồng các loại dược liệu và các loại rau như: xu hào, cải bắp, su su. Về cấu trúc địa tầng: Bá Thước có nhiều dạng: núi đất, núi đá, thung lũng, sông suối.
Có đỉnh núi cao nhất nằm ở hai xã là Thành Sơn và Phú Xuân (Quan Hóa), đó là đỉnh núi Pù Luông cao 1387 m, tiếp đó là Lai Láng cao 1075 m; phía bắc Sông Mã có đồi Trợi… tạo nên các thung lũng dọc suối Nưa, suối Ai, suối Khô Ông, đất đai màu mỡ thuận lợi để trồng hoa màu các loại [2; tr. Nhìn chung, địa hình Bá Thước là vùng chuyển tiếp từ núi cao xuống núi thấp, các dãy núi đều nghiêng dốc, kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam. Do đó, các d ng suối và đường giao thông chủ yếu cũng chạy theo hướng này. Với những đặc điểm về địa hình, đất đai và khí hậu nên kinh tế của Bá Thước là kinh tế lâm nghiệp kết hợp với nông nghiệp, chăn nuôi và các nghề 8 phụ khác.
Trong sản xuất nông nghiệp, lúa luôn là cây lương thực chính. Với khí hậu ôn đới mát mẻ, đồng bào các dân tộc ở Bá Thước đã trồng cây lúa nước, mở ra các cánh đồng màu mỡ ở Lũng Cao, Lũng Niêm, Ban Công. Cũng từ đó tạo ra những sản phẩm nổi tiếng như: “Nếp đồng Cao, gạo thơm đồng Cốc”. Bên cạnh đó, bà con c n trồng ngô, sắn ở các cánh bãi và nương rẫy để làm nguồn lương thực và cung cấp thức ăn cho gia súc, gia cầm.
Về tài nguyên khoáng sản : Do cấu tạo địa chất nên vùng đất Bá Thước có nhiều loại đá mẹ như: thạch anh-xerixit-clorit, thạch anh mi ca, đá vôi giàu sét, đá vôi si-lic… Quá trình phong hóa, xâm thực đã để lộ ra một số tài nguyên khoáng sản. Tài liệu khảo sát địa chất đã xác định: Mỏ sắt có ở rải rác, nhưng tập trung nhất là vùng xung quanh Đồi Công, trên địa phận các xã Lương Nội, Lương Ngoại, Hạ Trung, Ái Thượng. Trữ lượng 30-35 vạn tấn, hàm lượng: 40-50%. Vàng sa khoáng có ở Ban Công.
Vàng gốc có ở Lũng Cao, Cổ Lũng, Điền Lư… Clanhke có ở Kỳ Tân. Trữ lượng không kém gì ở Phú Thọ và Lâm Đồng. Đây là nguồn nguyên liệu quý hiếm dùng trong công nghiệp sản xuất đồ sành sứ. Đá đỏ Hồng Bảo có ở Điền Hạ, đã được khai thác để ghép nền cờ đỏ trong lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đá hoa ốp lát ở Thiết Kế, Điền Lư có trữ lượng hàng triệu tấn. Đá vôi, cát, sỏi có ở một số địa phương trong huyện [2; tr. Về giao thông đƣờng bộ: Bá Thước có các đường chiến lược quan trọng: đường 217 nối từ đường quốc lộ 1A sang nước bạn Lào, qua địa phận Bá Thước 43 km, quốc lộ 15A qua Lang Chánh vượt dốc sáp Ong qua Bá Thước 20 km lên Na Xài Quan Hóa và Mai Châu - Hòa Bình. Từ thời xa xưa các con đường này đã là những huyết mạch giao thông quan trọng đi ra Bắc vào Nam và sang nước bạn.
Đồng thời, trong địa phận huyện c n có hơn 400 km đường lâm nghiệp, liên xã, liên thôn. Nhờ những thung lũng tương đối bằng phẳng thông với nhau qua các eo đất thấp mà mạng lưới giao thông thủy bộ ở Bá Thước dày đặc, dọc ngang có ba tụ điểm quan trọng là Đồng Tâm, Cành Nàng và Điền Lư. Chính vì thế, Bá Thước luôn có quan hệ mở cửa không chỉ trong tỉnh mà còn với tỉnh bạn và nước bạn Lào. Các nhà chiến lược quân sự xưa nay vẫn coi mảnh đất này là nơi hiểm yếu, vừa là tiền đề, vừa là hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến [2; tr.
9 Với điều kiện tự nhiên như trên, huyện Bá Thước đang tận dụng nhiều cơ hội để thu hút đầu tư và khai thác những tiềm năng thế mạnh, nhằm phát triển bền vững kinh tế - xã hội của huyện. Sơ lược về khu vực hành chính Bá Thước từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Vùng đất huyện Bá Thước ngày nay đã được nghiên cứu và kết luận bước đầu, các nhà khảo cổ đã phát hiện thấy ở Hạ Trung, Tân Lập, Lâm Xa, Thiết Ống… dấu vết của nền văn hóa Sơn Vi thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ và văn hóa Bắc Sơn thuộc thời đại đá mới. Chứng tỏ rằng con người đã cư trú ở đây cách ngày nay hàng vạn năm. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đơn vị hành chính huyện Bá Thước ngày nay đã có nhiều tên gọi: Năm 111(TCN) đến năm 43, tỉnh Thanh Hóa ngày nay thuộc Quận cửu chân, Bá Thước thuộc huyện Đô Lung.
Đến thế kỷ VII (nhà Đường) Bá Thước thuộc huyện Đường Lâm. Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIV Bá Thước thuộc huyện Lỗi Giang; thời nhà Lê (1428 - 1527) thuộc huyện Quảng Bình - Phủ thiệu Thiên , Đến nhà Nguyễn năm Minh Mạng thứ 12(1831) thuộc Châu Quan Hóa - Phủ Thọ Xuân. Năm Tự Đức thứ III (1851) chia làm 4 tổng: Sa Long, Thiết ống, Cổ Lũng và Điền Lư thuộc Châu Quan Hóa. Năm Khải Định thứ III (1925) thực dân Pháp và triều đình Huế cắt 4 tổng trên lập châu mới, đặt tên là Châu Tân Hóa.
Châu Tân Hóa gồm 30 xã và 22 Ch m. Năm 1943, chính quyền phong kiến chia châu Tân Hóa thành hai phần: phía đông là Điền Lư và Sa Long nhập vào Cẩm Thủy; phía tây là Cổ Lũng và Thiết Ống thành một bang thuộc châu Quan Hóa [2; tr. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, bốn tổng củ của châu Quan Hóa nhập lại vẫn lấy tên là châu Tân Hóa, sở lị đóng ở La Hán (xã Ban Công). tháng 10 năm 1945, do thấy tên Tân Hóa không phù hợp với mảnh đất có bề dày truyền thống này, lãnh đạo châu Tân Hóa đề nghị tỉnh đổi tên là Bá Thước để kỷ niệm một thủ lĩnh của phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa, tháng 11 năm 1945, ủy ban hành chính tỉnh quyết định đổi thành châu Bá Thước.
Tháng 3 năm 1948, thực hiện sắc lệnh 148/SL của Thủ tướng Chính 10 phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a, đơn vị hành chính châu Bá Thước được đổi sang cấp hành chính huyện. Huyện Bá Thước lúc đầu có 7 xã là: Quốc Thành, Văn Nho, Thiết Ống, Hồ Điền, Quý Lương, Long Vân và Ban Công. Lị sở Huyện đóng ở Cành Nàng. Đến ngày 2 tháng 5 năm 1964 theo quyết định số 107/NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ chia 5 xã của huyện là: Quý Lương, Hồ Điền, Long Vân, Văn Nho, Quốc Thành Thành 18 xã.