Tổng quan nghiên cứu
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định 800/QĐ-TTg và Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X là một chiến lược toàn diện nhằm chuyển đổi căn bản diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam. Sau hơn 20 năm đổi mới, khu vực nông nghiệp và nông thôn đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên sự phát triển giữa các vùng miền vẫn còn khoảng cách lớn. Tính đến đầu năm 2015, toàn quốc đã có 889 xã và 5 huyện đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân mỗi xã đạt 11,56 tiêu chí, tăng 6,7 tiêu chí so với thời điểm khởi động năm 2011. Dù vậy, tại các địa bàn miền núi, xuất phát điểm kinh tế thấp và nguồn lực hạn chế vẫn là những rào cản lớn đối với tiến độ hoàn thành 19 tiêu chí quốc gia.
Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Ninh, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Đình Hòa tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tập trung giải quyết bài toán thực tiễn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá thực trạng triển khai xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí tại 03 xã điểm gồm Hoàng Khai, Mỹ Bằng và Nhữ Hán trong giai đoạn 2011-2015, với định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu xác định rõ những thuận lợi, khó khăn, thời cơ và thách thức đặc thù của vùng trung du miền núi phía Bắc. Kết quả phân tích mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hướng tới mục tiêu gia tăng thu nhập cho cư dân nông thôn từ 20% đến 30% và hoàn thiện hệ sinh thái hạ tầng cơ sở bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng nền tảng lý luận về phát triển nông thôn bền vững được định nghĩa bởi Ngân hàng Thế giới từ năm 1975 và các công trình nghiên cứu của Mai Thanh Cúc (năm 2005), khẳng định phát triển nông thôn là chiến lược tổng hợp cải thiện đời sống kinh tế - xã hội cho nhóm cư dân nông thôn nghèo. Về mặt tổ chức sản xuất nông nghiệp, đề tài kế thừa các quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong lịch sử nông nghiệp Việt Nam, tiêu biểu là Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988 của Bộ Chính trị với nguyên tắc đột phá "một chủ, bốn tự", xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ cơ bản.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đối chiếu kinh nghiệm quốc tế phong phú, bao gồm phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) khởi xướng từ thập niên 70 tại Nhật Bản và phong trào Làng mới (Saemaul Undong) của Hàn Quốc với 3 trụ cột: cần cù, tự lực và hợp tác, đúc kết thành 6 bài học lớn về phát huy nội lực nhân dân. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm: Nông thôn mới (văn minh, sạch đẹp, hạ tầng đồng bộ, an ninh vững chắc theo 19 tiêu chí tại Quyết định 491/QĐ-TTg và Quyết định 342/QĐ-TTg), Chủ thể nông dân (người trực tiếp thực hiện, giám sát và thụ hưởng thành quả), và Môi trường sinh thái nông thôn (tiêu chuẩn cốt lõi đảm bảo sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011-2015 của Ban Chỉ đạo nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang, huyện Yên Sơn và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 30 cán bộ chuyên trách trong ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tại 3 xã (n=30) và mẫu khảo sát 120 hộ dân đại diện cho các nhóm ngành nghề chính như trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các thành phần dân tộc và điều kiện địa hình khác nhau.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm (%), kết hợp tính toán độ lệch chuẩn (SD) và sai số chuẩn của số trung bình (SE) là nhằm lượng hóa chính xác mức độ tiệm cận từng tiêu chí cụ thể. Quy trình nghiên cứu bám sát 7 bước xây dựng nông thôn mới theo Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC, giúp đánh giá khách quan toàn bộ tiến trình từ khâu khảo sát, lập quy hoạch, phê duyệt đề án cho đến giám sát thực thi tại cơ sở trong suốt timeline 2011-2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, có sự bứt phá rõ nét về hạ tầng kinh tế - kỹ thuật tại các xã điểm. Năm 2011, xuất phát điểm của cả 3 xã Hoàng Khai, Mỹ Bằng và Nhữ Hán đều dưới 5 tiêu chí. Nhờ lồng ghép các chương trình mục tiêu và chính sách hỗ trợ xi măng của tỉnh Tuyên Quang, đến tháng 12 năm 2014, tỷ lệ bê tông hóa đường trục thôn và ngõ xóm tăng mạnh, giúp xã Hoàng Khai và Mỹ Bằng đạt từ 10 đến 14 tiêu chí, trong đó tiêu chí giao thông và thủy lợi đạt tỷ lệ hoàn thành trên 85% kế hoạch.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế nông hộ chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa. Sự hình thành các trang trại chăn nuôi tập trung và vùng chuyên canh cây công nghiệp, chè, cây ăn quả đã giúp nâng cao giá trị sản xuất thêm 20% đến 30% so với trước năm 2011. Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã điểm giảm bình quân 3,5% mỗi năm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện đáng kể.
Thứ ba, tiến độ thực hiện tiêu chí quy hoạch và môi trường còn nhiều điểm nghẽn. Tương tự như thực trạng chung của toàn quốc khi tỷ lệ xã hoàn thành quy hoạch mới chỉ đạt 68%, công tác lập quy hoạch chi tiết tại địa bàn nghiên cứu gặp lúng túng do năng lực tư vấn còn hạn chế. Tiêu chí môi trường là tiêu chí khó khăn nhất, tỷ lệ hộ gia đình có đủ 3 công trình vệ sinh đạt chuẩn theo Quyết định 272/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạt khoảng 55% đến 60% tổng số hộ khảo sát.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những thành công bước đầu xuất phát từ sự chỉ đạo tập trung của cấp ủy Đảng, chính quyền và sự đồng thuận hiến đất, góp công của nhân dân theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ ở một số tiêu chí là do tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn ngân sách cấp trên, đặc biệt ở các địa phương chưa tự cân đối được thu chi. Trong khi 11 xã điểm do Trung ương chỉ đạo đạt từ 15 đến 18 tiêu chí và 950 xã vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ đạt trên 10 tiêu chí (chiếm khoảng 18%), thì các xã miền núi Yên Sơn phải đối mặt với địa hình chia cắt và suất đầu tư hạ tầng cao hơn từ 1,5 đến 2 lần.
Để minh họa trực quan các kết quả này, dữ liệu nghiên cứu được trình bày chi tiết qua biểu đồ cơ cấu sử dụng đất tại Hình 3.1 (phản ánh quỹ đất lâm nghiệp chiếm trên 65% diện tích tự nhiên) và Bảng 3.3 tổng hợp tiến độ 19 tiêu chí giai đoạn 2011-2014. Bảng số liệu đối sánh cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm tiêu chí dễ thực hiện như an ninh trật tự, bưu điện (đạt 100%) và nhóm tiêu chí cần nhiều vốn đầu tư như cơ sở vật chất văn hóa, trường học và môi trường (mới đạt từ 40% đến 65%).
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, đẩy mạnh hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông và thủy lợi nội đồng. Ủy ban nhân dân huyện Yên Sơn cần chủ trì, phối hợp với Sở Giao thông Vận tải và Ủy ban nhân dân 3 xã huy động tối đa nguồn lực xã hội hóa, áp dụng cơ chế nhà nước hỗ trợ vật liệu, nhân dân tự tổ chức thi công, phấn đấu bê tông hóa 100% đường trục thôn và liên thôn, hoàn thành dứt điểm tiêu chí số 2 trước quý 4 năm 2017.
Thứ hai, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế tập thể. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp cùng Trạm Khuyến nông huyện Yên Sơn hỗ trợ thành lập mới 03 hợp tác xã chuyên ngành, triển khai 15 mô hình kinh tế trang trại liên kết tiêu thụ sản phẩm chè và cây ăn quả công nghệ cao, mục tiêu tăng thu nhập bình quân đầu người lên 1,5 lần trong giai đoạn 2016-2020.
Thứ ba, giải quyết triệt để vấn đề vệ sinh môi trường và nước sạch nông thôn. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Sơn hướng dẫn chính quyền các xã triển khai quy hoạch các bãi xử lý rác thải tập trung tại từng thôn bản, hỗ trợ kinh phí xây dựng 3 công trình vệ sinh đạt chuẩn theo Quyết định 272/QĐ-UBND, nâng tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại hợp vệ sinh đạt trên 85% trong thời hạn 18 tháng.
Thứ tư, nâng cao năng lực bộ máy cán bộ quản lý và chất lượng công tác tuyên truyền. Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Yên Sơn cần mở 12 lớp đào tạo nghiệp vụ quản lý dự án cho 100% cán bộ cấp xã, thôn và tổ chức 30 buổi tuyên truyền chuyên đề cho hơn 1.500 lượt người dân, hoàn thành trước tháng 12 năm 2016 nhằm xóa bỏ triệt để tư tưởng trông chờ ỷ lại.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý Nhà nước: Đội ngũ công tác tại Ban Chỉ đạo Nông thôn mới các cấp, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã có thể ứng dụng trực tiếp quy trình 7 bước tổ chức thực hiện đề án và các giải pháp lồng ghép nguồn vốn ngân sách hiệu quả vào thực tế địa phương.
Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý công có thể khai thác khung lý thuyết, bộ chỉ số phân tích sai số chuẩn (SE), độ lệch chuẩn (SD) và nguồn số liệu thực chứng tại 3 xã miền núi làm tài liệu giảng dạy, tham khảo và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.
Nhóm ban quản trị hợp tác xã và chủ trang trại: Các chủ thể kinh tế tại khu vực nông thôn có thể vận dụng các bài học về chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tổ chức liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao giá trị hàng hóa nông sản từ 20% đến 30%.
Nhóm các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển: Các nhà tài trợ quốc tế và tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực giảm nghèo bền vững có thể tham khảo các phát hiện về vai trò chủ thể của người dân để thiết kế các can thiệp hỗ trợ cộng đồng, vệ sinh môi trường và bảo tồn bản sắc văn hóa vùng cao.
Câu hỏi thường gặp
Ba xã điểm được chọn nghiên cứu trong luận văn gồm những địa phương nào? Nghiên cứu được tiến hành tại 03 xã điểm của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang bao gồm xã Hoàng Khai, xã Mỹ Bằng (02 xã điểm do tỉnh Tuyên Quang lựa chọn chỉ đạo) và xã Nhữ Hán (01 xã điểm do huyện Yên Sơn trực tiếp lựa chọn) nhằm đại diện cho các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng của vùng trung du miền núi.
Cơ sở pháp lý nền tảng nào quy định 19 tiêu chí nông thôn mới trong nghiên cứu? Chương trình dựa trên Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí, được hướng dẫn bởi Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT và cập nhật sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013.
Tại sao tiêu chí quy hoạch nông thôn mới lại gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai? Sau 4 năm triển khai trên toàn quốc, tỷ lệ xã hoàn thành quy hoạch chỉ đạt 68% so với chỉ tiêu 100%. Nguyên nhân chính là do công tác chỉ đạo chưa đồng bộ, năng lực chuyên môn của các đơn vị tư vấn và cán bộ địa phương còn hạn chế khi phải thực hiện quy hoạch đồng loạt cho gần 10.000 xã trong thời gian ngắn.
Quy mô mẫu khảo sát thực địa trong luận văn được phân bổ như thế nào? Tác giả đã tiến hành điều tra bảng hỏi đối với mẫu nghiên cứu gồm 30 cán bộ chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tại 3 xã (n=30) cùng 120 hộ gia đình nông thôn được phân tầng theo 4 nhóm nghề nghiệp chính, đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin định lượng và định tính về sự hài lòng và mức độ tham gia của người dân.
Mô hình kinh tế nông nghiệp nào mang lại hiệu quả cao nhất tại địa bàn nghiên cứu? Các mô hình kinh tế trang trại tổng hợp kết hợp trồng trọt chè, cây ăn quả và chăn nuôi quy mô vừa đã chứng minh hiệu quả vượt trội, giúp tăng giá trị gia tăng từ 20% đến 30%, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn so với hình thức canh tác truyền thống manh mún.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại khu vực trung du miền núi phía Bắc giai đoạn 2011-2015.
- Đánh giá chính xác thực trạng tại 3 xã Hoàng Khai, Mỹ Bằng, Nhữ Hán với sự chuyển biến mạnh mẽ từ dưới 5 tiêu chí (năm 2011) lên 10-14 tiêu chí (năm 2014).
- Làm rõ các nút thắt then chốt về tiêu chí quy hoạch (chỉ đạt khoảng 68% tiến độ) và tiêu chí môi trường nông thôn theo chuẩn Quyết định 272/QĐ-UBND.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về hạ tầng, chuỗi giá trị nông nghiệp, xử lý rác thải và nâng cao năng lực quản lý với lộ trình thực thi đến năm 2020.
- Khẳng định bài học cốt lõi: phát huy nội lực của cộng đồng nông dân là nhân tố quyết định bảo đảm tính bền vững của phong trào xây dựng nông thôn mới.
Để ứng dụng hiệu quả các mô hình và giải pháp trong đề tài vào thực tiễn địa phương, các đơn vị quản lý và nhà nghiên cứu có thể tiếp tục mở rộng quy mô khảo sát trên toàn bộ 31 xã của huyện Yên Sơn nhằm xây dựng chiến lược phát triển nông thôn toàn diện cho giai đoạn tiếp theo.