CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG 1.1 Khái quát chung về năng lực công tác Giám sát thi công 1.1 Khái niệm chung về năng lực tư vấn giám sát 1.1 Khái niệm về năng lực Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Theo đó “năng lực” hay “core competency” được định nghĩa bằng một số khái niệm sau. Trong Tâm lý học, năng lực là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi “sự phát triển năng lực của mọi thành viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn, …và cảm thấy hạnh phúc khi lao động”. Trong nền Tâm lý học Liên xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề năng lực, có thể điểm qua một số các công trình nổi tiếng của các tác giả như: Năng lực toán học của V.
Miaxisốp; năng lực văn học của Côvaliốp, V. Iaguncôva… những công trinh nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản cả về mặt và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng tâm lý học Liên Xô trong những nghiên cứu về năng lực [2]. Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực. Theo quan điểm của tâm lý học mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ.
Như chúng ta đã biết, nội dung và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó. Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầu xác định. Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó. Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả 4 năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn.
Do đó chúng ta có thể định nghĩa năng lực như sau: “Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”. Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy…. Như vậy có thể định nghĩa năng lực nghề nghiệp như sau: “Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được” ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lại thì năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố sau: Tri thức chuyên môn Kỹ năng hành nghề Thái độ đối với nghề Năng lực nói chung và năng lực nghề nghiệp nói riêng không có sẵn như một số nhà tâm lý học tư sản quan niệm mà nó được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp.
Chúng ta có thể khẳng định rằng học hỏi và lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Như vậy, vấn đề đặt ra đối với các cơ sở đào tạo đặc biệt là các trường đại học, cao đẳng nơi đào tạo ra các chuyên gia trong những lĩnh vực khoa học, công nghệ thì việc tổ chức chương trình đào tạo cần căn cứ vào hệ thống năng lực nghề nghiệp mà nghề 5 đòi hỏi, có như vậy người sinh viên sau khi ra trường mới có năng lực phù hợp đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động mặt khác nó giúp cho ngành giáo dục đào tạo nói riêng và toàn xã hội nói chung tránh những lãng phí chất xám như thực tế đang diễn ra hiện nay. Một cách định nghĩa khác trong từ điển: Khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn. “Năng lực” theo đó là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Tiếp là khái niệm năng lực tự học: Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác. Năng lực lõi: Theo định nghĩa của Michael Porter (2013) trong chiến lược cạnh tranh: Năng lực lõi, có thể định nghĩa là khả năng làm tốt nhất một việc nào đó, khả năng kinh doanh có hiệu quả nhất trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó. Nói một cách nôm na, có thể diễn đạt năng lực lõi như là sở trường, là thế mạnh của doanh nghiệp. Nó bao gồm cả phần “mềm” lẫn phần “cứng”, nghĩa là cả những nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực chất xám, ở đây không thể hiểu bằng số lượng hay bằng cấp của lực lượng nhân sự, mà phải hiểu là khả năng, kỹ năng của những nhân sự đó.
Như vậy theo những định nghĩa ở trên, chúng ta có thể thấy nhiều cái nhìn khác nhau về “năng lực”. Đó là cái nhìn của tâm lý, tài chính, ngôn ngữ, marketing, đào tạo, triết học… Tựu chung lại, cho dù khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này và năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ, của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả.2 Khái niệm về tư vấn xây dựng Dịch vụ tư vấn đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam từ nhiều năm trước đây, tuy vậy, tư vấn vẫn còn là một khái niệm rất mới ở Việt Nam. Trước đây, trong 6 các giới hữu quan ở Việt Nam, tư vấn thường được hiểu một cách phổ biến như là “việc bán những lời khuyên nghề nghiệp” và “thường có sự hiểu lẫn lộn giữa tư vấn và môi giới, giữa hoạt động tư vấn và việc đưa ra những lời khuyên đơn giản” việc định nghĩa “tư vấn là gì” vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi. Tư vấn (consulting), thuật ngữ "consulting" có thể có rất nhiều nghĩa, tựu chung lại một ý tưởng chính là đưa ra các lời khuyên về nghiệp vụ.
Công ty tư vấn sẽ "tư vấn" một doanh nghiệp theo đúng cách mà một người đưa ra lời khuyên cho bạn bè hay người thân lúc cấp thiết, Trịnh Công Vấn (2007) [3]; Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cầu; Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vấn đa dạng trong công nghiệp xây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn.có quan hệ chặt chẽ với tư vấn đầu tư, thực hiện phần việc tư vấn tiếp nối sau việc của tư vấn đầu tư; Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng - chủ đầu tư xây dựng, các cơ quan và cá nhân có nhu cầu - quản lý dự án xây dựng: tổ chức việc khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sắm thiết bị đầu tư, đấu thầu xây lắp công trình, giám sát thi công xây dựng, kiểm định chất lượng, nghiệm thu công việc đã hoàn thành; Tư vấn xây dựng còn có thể được hiểu là các kiến trúc sư, kỹ sư, vv., những chuyên gia xây dựng có kỹ năng đa dạng, cung cấp các dịch vụ thiết kế, quản lý dự án, tư vấn giám sát, tư vấn đấu thầu, tư vấn thẩm tra. cho một dự án xây dựng thông qua các hợp đồng kinh tế. Cách hiểu này phản ánh bản chất đa dạng của hoạt động tư vấn xây dựng, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong mọi giai đoạn của dự án và đòi hỏi không những khả năng về kỹ thuật, quản lý, mà còn phụ thuộc một cách quyết định vào sự hiểu biết và những kỹ năng khác, bao gồm "cập nhật", "phát hiện", "sáng tác", lựa chọn", "chuyển giao" Trịnh Công Vấn (2007).3 Năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn bao gồm các nội dung: Ngoài mô hình tổ chức, quản lý, năng lực trình độ chuyên môn kỹ thuật như: Giám sát thi công, giám sát khối lượng, giám sát tiến độ, giám sát an toàn lao động – vệ sinh môi trường (theo luật định) thì người kỹ sư tư vấn còn phải chú trọng đến kỹ năng và kinh nghiệm, sự chuyên nghiệp, trình độ ngoại ngữ, đạo đức nghề nghiệp. Đây là những yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá năng lực nhà thầu tư vấn giám sát thi công hiện nay.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn giám sát phụ thuộc vào chính những yếu tố này.