Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết. Dưới đây là kết quả: { "ai_description": "Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Tác giả

Nguyễn Văn Chinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ nông nghiệp

2022

237
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái

Ruộng bậc thang Yên Bái là dạng địa hình đặc trưng của vùng núi phía Bắc Việt Nam. Loại đất này thường chỉ canh tác một vụ lúa mùa. Thời gian còn lại trong năm đất bỏ hoang. Ngô xuân trở thành cây trồng thay thế hiệu quả. Vụ xuân kéo dài từ tháng 2 đến tháng 5. Đây là giai đoạn nhiệt độ bắt đầu tăng dần. Lượng mưa phân bố chưa đều. Hệ thống thủy lợi trên ruộng bậc thang chưa hoàn chỉnh. Nguồn nước tưới phụ thuộc nhiều vào mưa tự nhiên. Diện tích ruộng bậc thang phân tán, manh mún. Địa hình dốc gây khó khăn cho cơ giới hóa. Năng suất ngô xuân tại Yên Bái còn thấp so với tiềm năng. Nguyên nhân chính do thiếu giải pháp kỹ thuật phù hợp. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chinh (2022) đã đề xuất các giải pháp tổng hợp. Mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ.

1.1. Đặc điểm đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái

Đất ruộng bậc thang Yên Bái thuộc nhóm đất phù sa cổ. Đất có tầng canh tác mỏng, khả năng giữ nước kém. Hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp. Độ pH dao động từ 5,5 đến 6,5. Đất thiếu hụt nghiêm trọng lân và kali. Địa hình dốc từ 15 đến 35 độ. Mỗi thửa ruộng bậc thang rộng từ 3 đến 8 mét. Hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ. Mùa khô đất thường xuyên thiếu nước. Mùa mưa nguy cơ xói mòn cao. Các huyện Mù Cang Chải, Văn Chấn, Văn Yên có diện tích lớn nhất.

1.2. Vai trò cây ngô trong sản xuất nông nghiệp miền núi

Ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa ở Việt Nam. Tại vùng miền núi phía Bắc, ngô chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cây trồng. Ngô phục vụ nhu cầu lương thực tại chỗ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ngô còn là nguyên liệu chăn nuôi gia súc, gia cầm. Giá trị kinh tế của ngô cao hơn lúa trên cùng đơn vị diện tích. Ngô có khả năng chịu hạn tốt hơn nhiều loại cây lương thực khác. Thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp vụ xuân trên ruộng bậc thang. Ngô góp phần đa dạng hóa cơ cấu cây trồng. Tăng thu nhập và giảm nghèo cho nông dân vùng cao.

II. Phân tích thách thức canh tác ngô xuân trên ruộng bậc thang

Canh tác ngô xuân trên ruộng bậc thang đối mặt nhiều thách thức. Nhiệt độ trung bình tháng 2, tháng 3 ở mức thấp, khoảng 15 đến 18 độ C. Các đợt rét đậm ảnh hưởng xấu đến quá trình nảy mầm. Lượng mưa vụ xuân phân bố không đều, trung bình 150 đến 200 mm. Giai đoạn đầu vụ thường thiếu nước cho cây sinh trưởng. Đất ruộng bậc thang có độ phì nhiêu thấp. Hàm lượng lân và kali trong đất không đáp ứng nhu cầu cây ngô. Thiếu hụt lân làm giảm năng suất từ 4 đến 13 phần trăm. Thiếu hụt kali làm giảm năng suất từ 1 đến 10 phần trăm. Địa hình dốc gây xói mòn khi mưa lớn. Diện tích thửa nhỏ, dốc đứng hạn chế cơ giới hóa. Giá phân bón tăng cao làm tăng chi phí sản xuất. Nông dân thiếu kiến thức về kỹ thuật canh tác ngô xuân. Thị trường tiêu thụ chủ yếu tại chỗ, quy mô nhỏ.

2.1. Hạn chế về điều kiện khí hậu và thủy lợi

2.2. Thực trạng dinh dưỡng đất và năng suất ngô

III. Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang hiệu quả

Giải pháp kỹ thuật tổng hợp giúp nâng cao năng suất ngô xuân. Chọn giống ngô phù hợp là bước quan trọng đầu tiên. Giống ngắn ngày từ 105 đến 115 ngày là tối ưu. Giống cần có khả năng chịu rét và chịu hạn tốt. Thời vụ gieo trồng nên từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 3. Gieo hạt sớm quá cây dễ bị rét hại. Gieo muộn quá ảnh hưởng đến vụ lúa mùa sau. Bón phân cân đối theo tỷ lệ NPK là 1:0,35:0,45. Mức bón khuyến cáo 120 kg nitơ, 40 kg lân, 60 kali mỗi hécta. Bón lót phân chuồng 5 đến 7 tấn mỗi hécta. Kỹ thuật trồng trên ruộng bậc thang cần tận dụng tối đa diện tích. Hàng cách hàng 60 cm, cây cách cây 25 đến 30 cm. Mật độ trồng từ 55.000 đến 60.000 cây mỗi hécta. Tưới nước tiết kiệm bằng phương pháp nhỏ giọt khi thiếu mưa. Phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, ưu tiên biện pháp sinh học.

3.1. Kỹ thuật chọn giống và thời vụ gieo trồng

3.2. Quản lý dinh dưỡng và phòng trừ sâu bệnh

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng giải pháp kỹ thuật ngô xuân

Nghiên cứu đã xác định đầy đủ các giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân. Các giải pháp bao gồm chọn giống, thời vụ, bón phân và chăm sóc. Kết quả áp dụng tại huyện Mù Cang Chải và Văn Chấn cho hiệu quả rõ rệt. Năng suất ngô xuân tăng từ 2,5 lên 4,5 đến 5,2 tấn mỗi hécta. Thu nhập của nông hộ tăng đáng kể so với canh tác truyền thống. Giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội. Nông dân dễ tiếp cận và áp dụng được ngay. Quy trình kỹ thuật đơn giản, chi phí đầu tư hợp lý. Diện tích đất ruộng bậc thang một vụ được khai thác hiệu quả. Sản lượng ngô tăng góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Mô hình có thể nhân rộng sang các tỉnh vùng núi phía Bắc. Cần có chính sách hỗ trợ nông dân tiếp cận giống và phân bón. Đào tạo tập huấn kỹ thuật cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên.

4.1. Hiệu quả kinh tế và xã hội đạt được

4.2. Triển vọng nhân rộng và khuyến nghị phát triển

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh yên bái identification of technical solutions to develop spring maize production on one crop terraces in yen bai province

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Canh tác ruộng bậc thang từ lâu đã được coi là loại hình canh tác độc đáo của người dân vùng cao tỉnh Yên Bái, là kiểu canh tác lúa nước trên địa hình đồi núi, cải tạo đất dốc thành đất bằng, ruộng bậc thang có giá trị về an ninh lương thực, giá trị về văn hóa và truyền thống dân tộc của người dân vùng cao của tỉnh. Với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững cho các huyện vùng sâu vùng xa, thì việc nhận thức được tính bền vững của canh tác trên ruộng bậc thang không chỉ mang lại nguồn lương thực thiết yếu mà còn là cơ sở cho việc định canh định cư, cũng là phương thức bảo vệ rừng một cách hợp lý và hữu hiệu. Diện tích hiện trạng đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái là 5.787,78 ha; chiếm 0,85% tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm 5,36% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh (Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái, 2019) [79]. Trong đó, diện tích đất ruộng bậc thang 1 vụ chiếm diện tích khá lớn và tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao khó khăn của tỉnh như huyện Văn Chấn, Văn Yên, Mù Cang Chải và Trạm Tấu (huyện Mù Cang Chải và huyện Trạm Tấu có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%).

Đất ruộng bậc thang tại đây có độ phì ở mức trung bình đến thấp, cơ cấu cây trồng chủ yếu là một vụ lúa mùa. Khung thời vụ canh tác vụ lúa mùa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian đất bỏ hóa từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 5 năm sau. Tuy nhiên, năng suất lúa mùa thấp, hiệu quả sản xuất không cao và đặc biệt thời gian bỏ hóa dài (7 tháng). Để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm vụ gieo trồng trên đất ruộng bậc thang 1 vụ nhằm đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế bền vững các huyện vùng cao của tỉnh thì chỉ có thể tăng vụ ở thời điểm đất bỏ hóa là ở vụ Đông hoặc vụ Xuân.

Tuy nhiên, vụ Đông của vùng từ tháng 11 đến giữa tháng 2 năm sau thường nhiệt độ ở mức thấp (15 - 180C), nhiệt độ trung bình tối thấp 11,7 - 14,60C và thường có những đợt rét đậm, rét hại, lượng mưa trung bình 150 - 200 mm, khó lựa chọn cây trồng ưa ấm gieo trồng phù hợp. Vụ Xuân, từ tháng 2 đến tháng 5 nhiệt độ trung bình 2 20 - 250C, nhiệt độ trung bình tối thấp là 15,7 - 210C, lượng mưa trung bình thấp 450 - 550 mm [53], khung thời vụ là 125 ngày, hoàn toàn có thể gieo trồng được thêm một vụ cây trồng ở vụ Xuân nữa với các loại cây trồng như ngô, đậu đỗ,… Cùng với cây lúa, cây ngô là cây lương thực quan trọng nằm trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của bộ Nông nghiệp và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Yên Bái. Năm 2018, diện tích gieo trồng ngô cả tỉnh là 28.522 ha, năng suất trung bình đạt 34,19 tạ/ha, mức năng suất thấp nhất của cả nước. Ngô được trồng chủ yếu trên nương rẫy, đất bãi bồi và một phần trên diện tích đất ruộng, ngô được trồng ở vụ xuân và vụ hè thu, vụ đông trên đất ruộng.

Từ lâu, cây ngô là cây trồng quan trọng gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của người dân tỉnh Yên Bái và vùng MNPB. Bên cạnh việc sản xuất ngô lấy hạt thì gieo trồng ngô sinh khối làm thức ăn, phát triển đàn gia súc cũng là hướng đi mới để phát triển kinh tế vùng cao hiện nay. Để canh tác thêm vụ ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái rất cần thiết phải lựa chọn được giống ngô ngắn ngày phù hợp với khung thời vụ gieo trồng vụ xuân, giống ngô có khả năng chịu hạn chịu lạnh tốt, giống ngô có đặc điểm hình thái phù hợp với tập quán canh tác người dân của vùng,… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kỹ thuật canh tác ngô phù hợp với điều kiện canh tác vụ xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái cũng là công việc rất quan trọng để đảm bảo việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm vụ ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái phát triển bền vững. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái’’.

Mục tiêu của nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Nghiên cứu xác định được bộ giống ngô, biện pháp canh tác hợp lý nhằm phát triển sản xuất ngô Xuân hiệu quả trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng, bao gồm cả các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. - Xác định được giống ngô có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác trên đất ruộng bậc thang của tỉnh Yên Bái.

- Xác định được kỹ thuật canh tác ngô (thời vụ gieo trồng, phương pháp gieo trồng, phân bón,…) phù hợp với điều kiện vụ xuân trên ruộng bậc thang của vùng. - Xây dựng được mô hình trình diễn ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. Đóng góp mới của luận án - Luận án đã đánh giá những hạn chế của canh tác ngô vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái là nhiệt độ thấp, khô hạn, tập quán canh tác của người dân,. - Luận án đã xác định được giống ngô (LVN17, NK6101), biện pháp kỹ thuật canh tác ngô hợp lý (thời vụ gieo trồng 10/2 - 20/2; phân bón 150 kg N + 120 kg P2O5 + 90 K2O/ha trên nền che phủ 5 tấn vật liệu hữu cơ/ha đối với ngô lấy hạt; mật độ gieo trồng 7,7 vạn cây và bón 180 kg N/ha với ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi) giúp phát triển sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang tại tỉnh Yên Bái.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án Về mặt khoa học - Luận án là công trình nghiên cứu đồng bộ về xác định giống và các biện pháp kỹ thuật tổng hợp cho ngô Xuân gieo trồng trên đất ruộng bậc thang một vụ tại Yên Bái. Kết quả nghiên cứu của luận án là các dẫn liệu cơ sở khoa học có giá trị không những cho việc bố trí gieo trồng cây ngô Xuân trên chân đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái, mà còn là cơ sở để phát triển cây ngô ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. - Luận án có thể sử dụng làm tài liệu trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. 4 Về mặt thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được giống ngô, kỹ thuật canh tác phù hợp, giúp phát triển mở rộng cơ cấu cây trồng ngô Xuân - lúa Mùa trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái, tăng hiệu quả sử dụng đất, khai thác sử dụng hiệu quả lao động dôi dư nông thôn ở vụ Xuân, thúc đẩy chăn nuôi phát triển, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội cho người dân vùng cao.

- Kết quả nghiên cứu về tăng vụ ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ lúa Mùa có thể áp dụng với một số tỉnh khác tại vùng miền núi phía Bắc có điều kiện tương tự. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan đất ruộng bậc thang 1. Nghiên cứu về đất ruộng bậc thang trên thế giới Trên thế giới, loại hình ruộng bậc thang được coi là phổ biến đối với các cư dân sinh sống ở vùng đồi núi đất.

Có thể kể ra đây một loạt các địa danh đã đi vào lịch sử như Banaue (Philippines) với người Iphugao, Nguyên Dương (Vân Nam, Trung Quốc), với người Hà Nhì, Ubud (Bali, Indonesia) với người Ba Li, Annapurna (Nepal) với người An na, Mae Rim (Chiềng Mai, Thái Lan) với người Ka Ren,. Trên thực tế, ruộng bậc thang không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp cảnh quan mà còn có nhiều giá trị cần được bảo tồn và phát huy các lợi thế trong tương lai. Ở Philipine: Người Ifugao đã sáng tạo ra nền văn hóa lúa nước dựa trên nền tảng canh tác ruộng bậc thang. Đó là những núi đất được chinh phục với độ cao từ 700m đến 1.500m và có những thửa ruộng bậc thang có hàng nghìn năm tuổi.

Những bờ ruộng bậc thang được kè bằng những viên đá nứt nẻ, liên kết với nhau tạo thành các bờ bền vững. Những thửa ruộng bậc thang ở đây đa dạng về kích thước, phần lớn có độ chênh là 0,6 m. Người Ifugao cũng có thể sử dụng các thửa ruộng bậc thang để phát triển chăn nuôi (Dẫn theo Lộc Trần Vượng, 2021) [76]. Nhật Bản: Tanada, theo nghĩa Nhật bản là lúa bậc thang, đầu tiên xuất hiện ở tài liệu lịch sử vào tiền Muromachi (Thế kỷ 14 đến 16).

Thời đó, người Nhật cổ đã làm ruộng bậc thang trồng lúa trên đất dốc (Dẫn theo Lộc Trần Vượng, 2021) [77]. Trung Quốc: Các ruộng lúa bậc thang đã có lịch sử từ lâu đời, được ghi chép cách đây 1300 năm. Các ruộng bậc thang Hani ở Yuanyang, Honghe, Luchun và nối với nhau có thể nhìn thấy từ núi này sang núi khác (Dẫn theo Jessica Larson-Wang, 2017) [94]. Ở Yuanyang, diện tích ruộng bậc thang có trên 11.000 ha và trên 3.

Thời tiết nơi đây khá lạnh nên người dân chỉ trồng được một vụ lúa/năm. Sau khi thu hoạch vào mùa thu, nước được trữ lại đó cho đến mùa xuân để tiếp tục mùa gieo cấy mới. Đa số các ruộng bậc thang ở Trung Quốc được người dân sử dụng đá để xếp làm bờ ruộng (Dẫn theo Nguyễn Trường Giang, 2015) [23]. 6 Ở Thái Lan: Vùng núi cao Đông Bắc của Thái Lan như Chiang Mai, Chiang Rai…tộc người Karen có truyền thống canh tác ruộng bậc thang.

Chiang Mai là thành phố lớn nhất ở miền bắc Thái Lan và cũng là nơi thu hút khách du lịch hàng đầu của xứ chùa vàng, mỗi năm thu hút hơn 14,1 triệu du khách ghé thăm. Một trong những điểm thu hút khách du lịch đến Chiang Mai là "Vương quốc triệu ruộng lúa" (Dẫn theo Lộc Trần Vượng, 2021) [76]. Ở Indonexia: Trên quần đảo Bali loại hình canh tác ruộng bậc thang cũng phổ biến. Ruộng bậc thang Bali đã có từ hơn 2.000 năm trước và được quản lí bởi các Subak, mỗi Subak sẽ chịu trách nhiệm tưới tiêu cũng như chăm sóc từ một đến vài thửa.

Ruộng nằm ở phía bắc làng Tegallalang, Bali. Cánh đồng bao gồm hơn 600 hecta ruộng lúa xuôi theo địa hình sườn đồi thoải của dãy núi Batukaru.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ