Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ENZYME RÁC TRONG QUÁ TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT 1. Khái niệm Enzyme sinh học từ rác GE (Garbage Enzyme) là một loại enzyme được phát triển bởi tiến sĩ người Thái – Rokuson. Cụ thể, đây là một hỗn hợp các chất hữu cơ đặc biệt như: các chuỗi protein tự nhiên, muối khoáng, hormone tăng trưởng, enzyme,… được tạo thành từ quá trình lên men rác thải hữu cơ.[1] Các hợp chất này có khả năng tạo ra xúc tác sinh học và phá vỡ cấu trúc của các chất bẩn, từ đó có khả năng tác động tích cực đến môi trường. Đồng thời, các hợp chất này còn là nguồn hữu cơ có khả năng hỗ trợ các hoạt động sống của cây trồng.
Đặc tính của Enzyme rác Enzyme rác có màu nâu sẫm, mùi chua ngọt lên men mạnh, dung dịch phức tạp, thu được bằng cách lên men vỏ trái cây, rau, đường và nước, có nhiều chức năng để phân hủy, và tăng tốc độ phản ứng.1: Đặc điểm của enzym rác (đơn vị mg/L trừ pH) Tham số Giá trị Độ pH 3,5 TDS 1053 COD 148 Tổng protein 38 HĐQT 75 1. Quy trình chế tạo enzyme rác 1. Nguyên vật liệu Rác thải hữu cơ: vỏ trái cây, vỏ rau củ, các loại dược liệu hoặc các loại thực vật có Sinh viên thực hiện: Thái Ngọc Anh Tuấn Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Yến Anh 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu ảnh hưởng của Garbage Enzyme đến quá trình xử lý nước thải sinh hoạt mùi thơm và tinh dầu (vỏ cam, vỏ bưởi, nha đam, hương nhu, bồ hòn, dứa,…) Tận dụng nguồn rác thải sẵn có trong gia đình. Đường: chất xúc tác giúp đẩy nhanh quá trình ủ, cung cấp nguồn dinh dưỡng cho các vi sinh vật phát triển ở giai đoạn đầu.
Nước sạch: nếu sử dụng nước máy, nên để mặt thoáng trong 24h giúp nước bốc hơi lượng clo. Vật liệu ủ: các loại chai nhựa, bình nhựa có khả năng dãn nở. Không sử dụng các loại bình thủy tinh. Vật liệu ủ phải có nắp đậy kín.
Thao tác thực hiện Cho mật rỉ đường, vỏ rau củ quả thừa và nước với tỉ lệ 1:3:10 vào thùng nhựa, khuấy đều và đậy kín. Rau củ quả trước khi ủ nên được cắt nhỏ để đẩy nhanh thời gian lên men. Trong vòng 1 tháng đầu tiên, thường xuyên lắc đều bình ủ để rác phủ đều dung dịch ủ và xả bớt khí trong bình. Sau khoảng 3 tháng, tiến hành chiết rót enzyme bằng cách lọc bỏ bã, trữ dung dịch enzyme vào chai để dùng dần.
Ứng dụng Trong gia đình:[3] + Như là một chất lỏng là sạch hộ gia đình. + Để loại bỏ mùi hôi, nấm mốc và bụi bẩn trong nhà bếp, nhà vệ sinh. + Tẩy rửa dụng cụ nhà bếp. + Như một tác nhân chống vi khuẩn và chống vi rút.
+ Để xua đuổi côn trùng. + Để làm sạch thảm. + Làm sạch sàn lau nhà + Làm sạch xe ôtô. Sinh viên thực hiện: Thái Ngọc Anh Tuấn Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Yến Anh 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu ảnh hưởng của Garbage Enzyme đến quá trình xử lý nước thải sinh hoạt - Trong nông nghiệp, enzyme rác được sử dụng:[3] + Làm giảm việc sử dụng phân bón hóa học.
+ Như là một loại thuốc trù sâu và thuốc diệt cỏ tự nhiên. + Để chuyển đổi đất cát với đất canh tác màu mỡ. + Làm sạch nước bẩn ở khu chăn nuôi. + Làm sạch không khí xung quanh chuồn trại.
Sử dụng enzyme rác đồng thời còn giúp việc giảm ô nhiễm toàn cầu, không tạo ra sản phẩm thứ cấp. Nước thải sinh hoạt 1. Khái niệm Nước thải sinh hoạt là loại nước được thải ra từ quá trình sử dụng nước hàng ngày như tắm giặt, rửa, vệ sinh… của các hộ gia đình, văn phòng, trường học, bệnh viện… [4] 1. Nguồn phát thải Khu căn hộ cao cấp.
Khu biệt thự. Khu dân cư, thương mại, vui chơi giải trí. Hoạt động chế biến thực phẩm của các nhà hàng, khách sạn, nhà ăn. Các cán bộ công nhân viên phục vụ.
Tình hình phát thải Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng càng ngày càng xấu đi. Tuy đã có cơ sở pháp lý là Luật và Tiêu chuẩn môi trường đối với nước thải sinh hoạt, song hiện trạng nước thải sinh hoạt và xử lý nước thải đang là vấn đề cấp bách cần được đặt ra để từng bước cải thiện tình hình. Hệ thống xử lý nước thải tại các đô thị đã quá lạc hậu, bất cập. Ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt gây ra được các chuyên gia môi trường đánh giá đang ở mức rất nghiêm trọng, thực trạng này đã được thể hiện trong nhiều báo cáo của Bộ tài Sinh viên thực hiện: Thái Ngọc Anh Tuấn Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Yến Anh 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu ảnh hưởng của Garbage Enzyme đến quá trình xử lý nước thải sinh hoạt nguyên và Môi trường, của các Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực: sông Cầu, sông Đáy, sông Nhuệ và sông Đồng Nai, báo cáo của các sở tài nguyên môi trường các tỉnh, thành phố trong cả nước và từ thực tế quan sát được ở các sông, hồ nội thành của các thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh.
Tại một số thành phố lớn, thị xã và thị trấn của một số khu vực dân cư có hệ thống cống rãnh thải nước thải sinh hoạt song hệ thống này thường dùng chung với hệ thống thoát nước mưa thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên hoặc ao hồ, sông suối hoặc thải ra biển. Hầu như không có hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt riêng biệt. Sô liệu thống kê cho thấy, trung bình một ngày Hà Nội thải 458000m 3 nước thải, trong đó 41% là nước thải sinh hoạt, 57% là nước thải công nghiệp, 2% nước thải bệnh viện. Chỉ có 4% nước thải được xử lý.
Phần lớn nước thải không được xử lý đổ vào các sông Tô Lịch và Kim Ngưu gây ô nhiễm nghiêm trọng 2 con sông này và các khu vực dân cư dọc theo sông. Theo số liệu đó cách đây gần 10 năm thì nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) tại sông Kim Ngưu cao tới 92,4 mg/l, cũng đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới 9 lần. Hồ cá tại hai quận Hoàng Mai và Thanh Trì đã bị ô nhiễm nặng do lấy nước từ 2 con sông trên. Không phải chỉ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, các thông số lơ lửng (SS), BOD; Nhu cầu oxy hóa học (COD); Oxy hòa tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.
Tại các vùng nông thôn, các cụm dân cư (làng, xã) tình hình vệ sinh còn đáng lo ngại. Phần lớn các gia đình không có nhà xí hợp vệ sinh. Hầu hết nước thải sinh hoạt thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên. Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.
Theo báo cáo của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn E.coli trung bình biến đổi từ 1500 – 3500 MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800 – 12500 MNP/100ml ở các kênh tưới tiêu. Việc thu gom và xử lý nước thải tập trung còn đang gặp rất nhiều bất cập và hạn chế. Công tác xử lý nước thải chưa được đẩy mạnh, tại một số đô thị cũng có xây dựng Sinh viên thực hiện: Thái Ngọc Anh Tuấn Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Yến Anh 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu ảnh hưởng của Garbage Enzyme đến quá trình xử lý nước thải sinh hoạt một số trạm xử lý nước thải cục bộ cho các bệnh viện như (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng…) nhưng do nhiều nguyên nhân như thiết kế, vận hành, bảo dưỡng, không có kinh phí… mà nhiều trạm xử lý sau một thời gian ngắn hoạt động đã xuống cấp và ngừng hoạt động. Thành phần Thành phần của nước thải sinh hoạt gồm 2 loại: - Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh.
- Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt. Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học. Ngoài ra còn có các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Thông số vật lý - Hàm lượng chất rắn lơ lửng Các chất rắn lơ lửng trong nước có thể có bản chất là: Các chất vô cơ không tan ở dạng huyền phù (Phù sa, gỉ sét, bùn, hạt sét); Các chất hữu cơ không tan; Các vi sinh vật (vi khuẩn, tảo, vi nấm, động vật nguyên sinh…).
Sự có mặt của các chất rắn lơ lửng cản trở hay tiêu tốn thêm nhiều hóa chất trong quá trình xử lý. - Mùi Hợp chất gây mùi đặc trưng nhất là H 2S mùi trứng thôi. Các hợp chất khác, chẳng hạn như indol, skatol, cadaverin và cercaptan được tạo thành dưới điều kiện yếm khí có thể gây ra những mùi khó chịu hơn cả H2S. - Độ màu Màu của nước thải là do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, thuốc nhuộm hoặc do các sản phẩm được tao ra từ các quá trình phân hủy các chất hữu cơ.
Đơn vị đo độ màu thông dụng là mgPt/L (thang đo Pt _Co). Độ màu là một thông số thường mang tính chất cảm quan, có thể được sử dụng để Sinh viên thực hiện: Thái Ngọc Anh Tuấn Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Yến Anh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu ảnh hưởng của Garbage Enzyme đến quá trình xử lý nước thải sinh hoạt đánh giá trạng thái chung của nước thải. - Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết hay môi trường của khu vực. Nhiệt độ nước thải công nghiệp đặc biệt là nước thải của nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện nhân thường cao hơn từ 10 – 25 oC so với nước thường.
Nước nóng có thể gây ô nhiễm hoặc có lợi tùy theo mùa và vị trí địa lý.