ĐẶT VẤN ĐỀ Gắn kết với công việc của nhân viên đối với cơ quan, tổ chức giữ vai trò rất quan trọng và quyết định đối với sự thành công và phát triển của cơ quan, tổ chức đó (1,2). Gắn kết của NVYT trong bệnh viện ảnh hướng lớn đến chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và sự phát triển của bệnh viện (3–5). Theo Shaufeli và Bakker, sự gắn kết với công việc của nhân viên được định nghĩa là một trạng thái tâm lý tích cực, có động lực để hoàn thành công việc (6). Các nghiên cứu trên thế giới về mức độ gắn kết công việc của NVYT chỉ đạt mức độ trên trung bình (3,5- 4,5 điểm) theo hang đo UWES-9 (4,7,8).
Các yếu tố như tự chủ, áp lực công việc, sự giám sát, quản lý, hỗ trợ, khen thưởng, đãi ngộ …có liên quan mức độ gắn kết công việc của NVYT đối với bệnh viện trong các nghiên cứu trước đó. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cũng chỉ ra gắn kết trong công việc của NVYT cũng chỉ đạt được ở mức trung bình (4,09-4,89 điểm) (9,10). Có rất nhiều yếu tố liên quan đến gắn kết như: áp lực công việc, môi trường làm việc, chính sách quản lý, đào tạo, thu nhập. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp tạo ra áp lực nên cả hệ thống y tế Việt Nam.
Các yếu tố căng thẳng, áp lực, sự hỗ trợ…càng chứng tỏ và khẳng định có sự liên quan đến gắn kết công việc (11–13). Bệnh viện 71 Trung ương là một bệnh viện hạng I, trực thuộc Bộ Y tế được thành lập năm 1950, bệnh viện đóng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Nhiệm vụ chủ yếu của BV là thu dung, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng cho bệnh nhân lao, bệnh phổi và người dân có nhu cầu tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận. BV được Bộ Y tế giao chỉ đạo tuyến chuyên khoa lao và bệnh phổi khu vực Bắc miền Trung.
Với đặc thù là BV tuyến Trung ương nhưng nằm xa thủ đô, trên địa bàn có nhiều BV công lập và tư nhân có uy tín. Đối tượng khám chữa bệnh chủ yếu các bệnh nhân lao và bệnh phổi, bệnh mạn tính kéo dài, đa số là bệnh nhân nghèo và cận nghèo, vì vậy nguồn thu của BV chủ yếu từ nguồn bảo hiểm y tế (BHYT), rất ít xã hội hóa, khám theo yêu cầu dẫn đến thu nhập của NVYT thấp, đời sống vật chất, tinh thần khó khăn. Bên cạnh đó, môi trường làm việc truyền nhiễm, nguy hiểm cũng là yếu tố khiến cho BV khó 2 khăn trong việc thu hút và duy trì NVYT làm việc tại BV. Hiện tại BV chưa có nghiên cứu nào được công bố về thực trạng mức độ gắn kết của NVYT.
Trước sự cần thiết nêu trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng gắn kết với công việc của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Bệnh viện 71 Trung ương năm 2022” nhằm tìm hiểu về gắn kết với công việc của NVYT tại BV 71 Trung ương, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường gắn kết với công việc của NVYT với bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại bệnh viện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng gắn kết với công việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện 71 Trung ương năm 2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến gắn kết với công việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện 71 Trung ương năm 2022.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Khái niệm về gắn kết của nhân viên với tổ chức được xây dựng từ lý thuyết của Homan năm 1958, sau đó được phát triển bởi lý thuyết của Becker năm 1960 và ngày càng trở thành đề tài quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Gắn kết với tổ chức được định nghĩa là “trạng thái tâm lý của thành viên trong tổ chức, phản ánh mức độ cá nhân chấp nhận những đặc điểm của tổ chức” (13). Tại Việt Nam tác giả Trần Kim Dung (2011) đã định nghĩa gắn kết của nhân viên được thể hiện qua việc nhân viên cống hiến những kỹ năng của họ để đóng góp nhiều hơn cho tổ chức, nỗ lực phấn đấu để tạo ra những giá trị tốt đẹp với tổ chức, chấp nhận hi sinh những lợi ích cá nhân để giúp đỡ nhóm, tổ chức hoàn thành công việc tốt nhất (15).
Có thể thấy khái niệm gắn kết ngày càng hoàn thiện và cụ thể hơn. Khái niệm gắn kết trong công việc của Schaufeli và Bakker (2002) phù hợp với bối cảnh và văn hóa Việt Nam và đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng (10,16). Gắn kết với công việc (Work Engagement- WE): là người lao động thực hiện công việc, nhiệm vụ của họ với tâm lý tích cực, đầy năng lượng, họ thực sự muốn công hiến thời gian và công sức cho công việc (6). Sự hăng hái khi làm việc (Vigro): Được đặc trưng bởi mức độ năng lượng cao, khả năng phục hồi về mặt tinh thần khi làm việc cũng như sự sẵn sàng đối mặt, nỗ lực, kiên trì vượt qua khó khăn khi làm việc (6).
Sự cống hiến (Dedication): là sự tham gia công việc một cách nhiệt tình, cảm thấy công việc có ý nghĩa và sự tự hào nghề nghiệp (6). Sự say mê (Absorption): là trạng thái tập trung cao độ, quên đi thời gian và các sự việc xung quanh. Người lao động vượt qua được khó khăn và cảm thấy hạnh phúc khi làm việc (6). 5 Nhân viên y tế: được quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 22/2013/TT- BYT và sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư 26/2020/TT-BYT về hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế.
Nhân viên y tế là công chức, viên chức, người đang làm chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ sở y tế (17). Sự hài lòng trong công việc: theo định nghĩa của Trường Đại học Oxford: “Hài lòng với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc”. Sự hài lòng được đề cập ở đây bao gồm cả hai mặt các thay đổi ảnh hưởng về tổ chức và nguyên nhân (18). Giới thiệu về các thang đo sử dụng trong nghiên cứu 1.
Thang đo về gắn kết với công việc a) Thang đo dựa trên lý thuyết về gắn kết của Kahn Lý thuyết về gắn kết của Kahn và cách tiếp cận thỏa mãn nhu cầu khi thực hiện công việc nào đó: đo lường ba khía cạnh thể chất, nhận thức và cảm xúc (19). Dựa trên lý thuyết này, ba công cụ về gắn kết với công việc được phát triển: Công cụ đo lường tâm lý gắn kết do tác giả May và cộng sự năm 2004- (May et al.’s Psychological Engagement Measure), là bảng hỏi tự điền bao gồm 13 câu hỏi với hệ số tin cậy Cronbach’s α của cả thang đo =0,77 (N=213) (20). Công cụ đo lường gắn kết với công việc của Rich và cộng sự năm 2010 – (Rich et al.’s Job Engagement Measure) là một bảng hỏi tự điền bao gồm 18 câu hỏi, hệ số tin cậy Cronbach’s α của cả thang đo là 0,91 (N=245) (21). Hai thang đo trên đều sử dụng thang điểm 5 mức từ “rất không đồng ý” đến “rất đồng ý”.
Năm 2011, Tác giả James và cộng sự đã phát triển bộ công cụ về gắn kết trong công việc thành bảng hỏi tự điền gồm 8 câu hỏi với 5 mức độ từ “đồng ý” đến “không đồng ý” trên các khía cạnh về nhận thức; cảm xúc; hành vi. Hệ số tin cậy Cronbach’s α (của cả thang đo) =0,91 (N=6047)(22). 6 Năm 2012, Tác giả Soane đã phát triển bộ công cụ bao gồm 9 câu hỏi bao gồm các thành tố về cảm xúc, xã hội và nhận thức (23). Với 7 mức điểm từ “rất không đồng ý” đến “ rất đồng ý”, hệ số α = 0,91 (N1= 540; N2= 1486) (23).
Thang đo đề cập đến khía cạnh xã hội, sự kết nối, trao đổi giữa các đồng nghiệp về cuộc sống, xã hội và trong công việc. Các bộ công cụ này có ưu điểm là cho thấy mối liên quan giữa các yếu tố: sự tự chủ, sự hỗ trợ, giám sát và sự minh bạch trong công việc với gắn kết với tổ chức của nhân viên nhưng lại tập trung vào các vấn đề liên quan đến sự kết nối trong công việc hơn là gắn kết, vì vậy công cụ này ít được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây về gắn kết. b) Công cụ kiểm tra nơi làm việc của Gallup Từ cách tiếp cận về sự hài lòng của NVYT, năm 2002, tác giả Gallup đã phát triển bộ công cụ kiểm tra nơi làm việc (The Gallup workplace Audit - GWA). Bộ công cụ này cung cấp thông tin cho các nhà quản lý về môi trường làm việc nhằm can thiệp để tăng sự hài lòng của nhân viên, từ đó suy rộng ra gắn kết (24).
Bộ công cụ là bảng hỏi tự điền gồm 12 câu hỏi theo thang điểm 5 từ “rất không đồng ý” đến “rất đồng ý”. Hệ số tin cậy của thang đo Cronbach’s α = 0,91 theo nghiên cứu tại 7.939 đơn vị kinh doanh của Gallup về gắn kết. Bộ công cụ này phân tích tổng hợp để tìm mối quan hệ giữa “sự hài lòng của nhân viên - gắn kết” liên kết với sự hài lòng của khách hàng, năng suất, lợi nhuận, sự nghỉ việc của nhân viên và tai nạn. Bộ công cụ này phù hợp với doanh nghiệp, kinh doanh, dịch vụ hơn là môi trường bệnh viện, vì vậy bộ công cụ ít được sử dụng trong môi trường bệnh viện.
c) Công cụ đo gắn kết với công việc và gắn kết với tổ chức của Saks Với cách tiếp cận sự gắn kết công việc một cách đa chiều, năm 2006 tác giả Saks đã hoàn thiện bộ công cụ đo lường gắn kết với tổ chức và gắn kết với công việc. Bộ công cụ bao gồm 6 mục theo thang điểm 5 từ “rất không 7 đồng ý” đến “rất đồng ý” để đo lường hai mục tiêu chính: gắn kết với tổ chức; gắn kết với công việc. Hệ số tin cậy Cronbach’s α: gắn kết với công việc = 0,82; gắn kết với tổ chức = 0,90 (N=102)(25). Công cụ này cho thấy gắn kết với công việc và gắn kết với tổ chức có một số tiền đề chung như sự hỗ trợ từ tổ chức, đặc điểm công việc tác động đến gắn kết tổ chức yếu hơn gắn kết công việc.
Với cách tiếp cận một cách đa chiều này cung cấp thông tin toàn diện, đầy đủ hơn về gắn kết với tổ chức và gắn kết với công việc. Tuy nhiên tác giả xây dựng trên các định nghĩa được cung cấp bởi nhiều học giả nổi tiếng đi trước vì vậy bộ công cụ khá dài và phức tạp.