CHƯƠNG I: HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 DÂN SỐ VÀ HÀNH CHÍNH Về hành chính, toàn huyện Vĩnh Cửu có 11 xã và 1 thị trấn. Diện tích tự nhiên là 1.092,55 km2 chiếm khoảng 18,51% diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng Nai. Dân số của huyện Vĩnh Cửu năm 2010 là 136.072 người, chiếm gần 5% dân số của tỉnh Đồng Nai, mật độ dân số 124,5 người/km2. Trong đó, số dân thành thị chiếm 17,98 %; nông thôn chiếm 82,1 %.
Dân cư phân bố không đều giữa các khu vực, các xã phía Nam có mật độ dân số trung bình từ 400 - 800 người/km2, các xã phía bắc từ 20- 50 người/km2. Tốc độ tăng dân số trong giai đoạn 2006-2010 là 2,58%/năm. Với những định hướng, tiềm năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng cấp huyện Vĩnh Cửu trở thành huyện phát triển, đồng thời một số huyện phát triển nhanh, xung quanh huyện Vĩnh Cửu cũng góp phần thúc đẩy sự chuyển biến, cũng như là động lực để huyện Vĩnh Cửu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, các huyện lân cận như Trảng Bom, Tp. Biên Hòa, Định Quán, Tân Phú.
Huyện Vĩnh Cửu là huyện có mật độ dân cư thấp, tuy nhiên có diện tích lớn nhất so với các huyện còn lại trên địa bàn tỉnh, do có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cáo với 65.921 ha và có hồ Trị An chiếm 16.500 ha ( tổng cộng chiếm 72.421 ha) về hiện trạng diện tích tự nhiên, dân số ở Thị trấn và các xã như sau: Nguyễn Tấn Cang – Lớp Cao học Kỹ thuật Hạ tầng đô thị K20 Trang 8 Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sỹ Hình 1: Bản đồ Hành chính huyện Vĩnh Cửu Nguyễn Tấn Cang – Lớp Cao học Kỹ thuật Hạ tầng đô thị K20 Trang 9 Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sỹ Bảng 1.1: Bảng Thống Kê dân số của huyện Vĩnh Cửu STT Tên đơn vị hành chính Diện tích (km2) Dân số (người) 1 Thị trấn Vĩnh An 43,52 26.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1.1 Vị trí địa lý Huyện Vĩnh Cửu nằm ở phía bắc tỉnh Đồng Nai, ranh giới của huyện được xác định như sau: - Phía Bắc giáp huyện Đồng Phú và Bù Đăng của tỉnh Bình Phước. - Phía Nam là huyện Trảng Bom và thành phố Biên Hòa. - Phía Đông giáp huyện Định Quán và huyện Thống Nhất( rừng quốc gia Vườn quốc gia Cát Tiên và hồ Trị An). - Phía Tây giáp huyện Phú Giáo và Tân Uyên tỉnh Bình Dương.
Nguyễn Tấn Cang – Lớp Cao học Kỹ thuật Hạ tầng đô thị K20 Trang 10 Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sỹ Do nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cạnh thành phố Biên Hoà với các tuyến giao thông thuỷ bộ quan trọng của tỉnh, nên Vĩnh Cửu có lợi thế to lớn về phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch, là một trong những nơi có khả năng thu hút vốn đầu tư và có triển vọng phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, đóng vai trò khá quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Đồng Nai.2 Địa hình: Huyện Vĩnh Cửu có 2 dạng địa hình chính: đồi và đồng bằng ven sông Địa hình đồi: Phân bố tập trung ở khu vực phía Bắc của huyện, diện tích tự nhiên: 83.351 ha, chiếm 77,7% tổng diện tích toàn huyện. Cao trình cao nhất ở khu vực phía Bắc khoảng 340m, thấp dần về phía Nam và Tây Nam, khu vực trung tâm huyện có độ cao khoảng 100 – 120 m, khu vực phía Nam khoảng 10 – 50 m. Diện tích có độ dốc < 30 chiếm 17,1%, từ 3 - 80 chiếm 33,8%, từ 8 – 150 chiếm 22,6%, > 150 chỉ chiếm 4,2%. Dạng địa hình này tương đối thích hợp với phát triển nông – lâm nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng.
Địa hình đồng bằng: Diện tích 5.994 ha, chiếm 5,5% tổng diện tích, cao độ trung bình 2 - 10 m, nơi thấp nhất 1 – 2 m. Đất khá bằng, thích hợp với sản xuất nông nghiệp, nhưng do nền đất yếu nên ít thích hợp với xây dựng cơ sở hạ tầng.3 Khí hậu Vị trí nằm trong vùng chịu ảnh hưởng khí hậu chung của tỉnh Đồng Nai. Đây là vùng có điều kiện khí hậu ôn hòa, biến động giữa các thời điểm trong năm, trong ngày không cao, không bị ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai lũ lụt. Do vậy, đây là một trong các vùng lý tưởng để phát triển sản xuất công nghiệp.
Các thông số cơ bản của khí hậu như sau: - Nhiệt độ không khí trung bình bình quân năm: 26,70 C. - Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối: 400 C. - Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối: 130 C. - Nhiệt độ của tháng cao nhất: 24 - 350 C (tháng 4 hàng năm) - Nhiệt độ của tháng thấp nhất: 22 – 310 C (tháng 12 hàng năm).
- Độ ẩm không khí dao động từ 75 – 85% cao nhất vào thời kỳ các tháng có mưa (tháng 6 – 11) từ 83 -87%, do độ bay hơi không cao làm cho độ ẩm không khí cao và độ ẩm đạt thấp nhất là vào các tháng mùa khô ( tháng 2 – 4) đạt 67 – 69%. Nguyễn Tấn Cang – Lớp Cao học Kỹ thuật Hạ tầng đô thị K20 Trang 11 Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sỹ - Số giờ nắng trung bình từ 5 – 9, 6 – 8 giờ/ngày. - Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ khoảng 2. - Hướng gió chủ đạo trong khu vực từ tháng 7 – 10 là hướng Tây – Tây Nam, tương ứng với tốc độ gió từ 3,4 – 4,7 m/s.
Nắng nhiều, nhiệt độ cao đều trong năm, rất thuận lợi cho thâm canh tăng năng suất và tăng vụ. Mưa tập trung theo mùa, theo điều kiện thời tiết thì chỉ có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp trong mùa mưa, nhưng nếu giải quyết được nước tưới thì sản xuất nông nghiệp trong mùa khô thường cho hiệu quả cao và ổn định.4 Tài nguyên nước Sông Đồng Nai là con sông lớn thứ nhì Nam Bô, chỉ sau sông Cửu Long. Nguồn sông chính xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng. Đoạn trên sông mang tên sông Đắc Dung.
Sông uốn khúc chảy theo hướng Đồng Bắc – Tây Nam vượt khỏi miền núi ra đến bình nguyên ở Tà Lài, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy vào Đồng Nai ở bậc địa hình thứ 3 và là vùng trung lưu của sông. Đoạn sông chảy qua huyện Vĩnh Cửu chảy êm đềm, lòng sông mở rộng và sâu. Ở khoản lưu vực này có đập Trị An chắn dòng sông, tạo nên hồ nước nhân tạo lớn nhất miền Nam, tức hồ Trị An cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An.
Hồ Trị An được khởi công vào năm 1984 và hoàn thành đầu năm 1987. Hồ có dung tích toàn phần 2,765 km3 , dung tích hữu ích 2,547 m3 và diện tích mặt hồ 323 km2. Hồ được thiết kế để cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An công suất 400MW với sản lượng điện hàng năm 1,7 tỷ kwh. Công trình thủy điện Trị An còn có ý nghĩa kinh tế tổng hợp với mục đích chính hòa lưới điện quốc gia cùng với các nhà máy khác cung cấp điện cho phụ tải toàn quốc.
Ngoài ra, là thủy điện đa mục tiêu, công trình còn đảm bảo nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, đẩy mặn và điều tiết lũ… Nhìn chung, nguồn nước mặt trong phạm vi huyện Vĩnh Cửu khá phong phú, nhưng do ảnh hưởng của địa hình nên việc sử dụng nguồn nước này vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế. Hiện nay hệ thống bơm tưới nước từ nguồn nước sông Đồng Nai mới tưới được khoảng 10% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện. Nước ngầm: Theo Liên đoàn quy hoạch và điều tra môi trường nước Miền Nguyễn Tấn Cang – Lớp Cao học Kỹ thuật Hạ tầng đô thị K20 Trang 12 Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sỹ Nam, nước dưới đất tại huyện Vĩnh Cửu khá phong phú, nhưng phân bố không đều, có khả năng khai thác từ độ sâu từ 10-15m và 30-35 m, trữ lượng nước tĩnh đạt 788.800 m3, tổng trữ lượng 1.000 m3/ngày, chất lượng nước tốt với tổng khoáng hóa 0,07- 0,6g/l thuộc loại nước nhạt có chứa bicarbonat natri và hàm lượng sắt cao. Hiện đã được khai thác để sử dụng cho sinh hoạt và tưới cho khoảng 191 ha.5 Tài nguyên đất Theo báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Cửu hiện nay có các nhóm đất chính như sau: - Nhóm đất phù sa: 1.243 ha (1,2%) - Nhóm đất Gley: 4.751 ha (4,4%) - Nhóm đất đen: 2.907 ha (2,7%) - Nhóm đất xám: 72.682 ha (67,7%) - Nhóm đất đỏ: 7.643 ha (7,1%) - Nhóm đất loang lổ: 120 ha (0,1%) - Hồ ao: 15.908 ha (14,8%) - Sông suối: 2.065 ha (1,9%) Theo số liệu thống kê của phòng Tài nguyên môi trường huyện Vĩnh Cửu, hầu hết diện tích đất đã được sử dụng với cơ cấu như sau: Tổng diện tích đất tự nhiên : 109.
- Đất nông nghiệp : 17. - Đất lâm nghiệp : 65. - Đất chuyên dùng : 18. - Đất chưa sử dụng : 7.
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp còn rất thấp, năng suất các loại cây trồng trong các loại hình sử dụng đất còn thấp và không ổn định. Độ dốc, tầng dày: So với các huyện khác trong tỉnh thì tài nguyên đất của huyện Vĩnh Cửu có nhiều hạn chế về độ dốc và tầng dày. Về độ phì nhiêu: Đất phù sa có độ phì nhiêu cao nhất, thích hợp với nhiều loại cây trồng, kế đến là đất phát triển trên đá Bazan, các loại đất còn lại có độ phì nhiêu thấp. Nguyễn Tấn Cang – Lớp Cao học Kỹ thuật Hạ tầng đô thị K20 Trang 13 Trường Đại học Giao thông vận tải Luận văn thạc sỹ 1.6 Tài nguyên khoáng sản Tài nguyên khoáng sản của huyện Vĩnh Cửu tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại.
Có tiềm năng khoáng sản phong phú về chủng loại kim loại quý, nguyên vật liệu xây dựng: cát, đá, keramzit cho sản xuất bê tông nhẹ, puzlan và laterit nguyên liệu phụ gia cho ximăng. Đến nay đã phát hiện được nhiều mỏ, điểm quăng, điểm khoáng hóa với tiềm năng triển vọng khai thác như: - Vàng: có hai mỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An rất có triển vọng. - Kerazit: phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn. - Pozolan: rất phong phú, tập trung ở Vĩnh Tân.
- Laterít: khá phổ biến. - Kim loại quý: tập trung chủ yếu ở phía Bắc của huyện Vĩnh Cửu như mỏ Vĩnh An, mỏ Suối Linh.