Đặt vấn đề Giun, sán ký sinh đường ruột là bệnh thường gặp và phổ biến trên tất cả các loài động vật ở khắp các nơi trên thế giới, chúng ký sinh trong đường ruột của các loài động vật nói chung và trên ngựa nói riêng rất đa dạng và phong phú cả về chủng loại và giống loài. Vật nuôi nhiễm bệnh sẽ bị các loài giun, sán sống ký sinh chiếm đoạt chất dinh dưỡng gây tình trạng thiếu máu, làm tổn thương niêm mạc đường ruột và gây nên những biến đổi bệnh lý khác (Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự, 2012). Tại Việt Nam, nhiều tỉnh thành có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi ngựa. Lâm Đồng là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi ngựa ở khu vực Tây Nguyên.
Theo số liệu thống kê chăn nuôi Việt Nam năm 2021, đàn ngựa ở khu vực Tây Nguyên là 374 con, riêng tỉnh Lâm Đồng chiếm 327 con. Tuy nhiên, chăn nuôi ngựa ở Lâm Đồng nói riêng cũng như cả nước nói chung còn mang tính chất nhỏ lẻ, phân tán, tốc độ phát triển chậm và một trong số những trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi ngựa là sự gây hại của bệnh giun, sán ký sinh đường tiêu hóa nói chung và đường ruột nói riêng. Theo Skrjabin và Petrov (1963), Arundel (1978); Souslby (1982) và Kaufmann (1996) đến nay trên thế giới đã phát hiện 48 loài giun, sán chủ yếu thuộc 25 giống, 11 họ ký sinh phổ biến trong đường tiêu hóa ở ngựa. Hoàng Văn Dũng (2001) phát hiện 1 loài sán dây và 13 loài giun tròn ký sinh trên đường tiêu hóa của ngựa.
Ngựa Thoroughbred là một trong những giống ngựa đua có tốc độ nhanh và sinh trưởng mạnh. Trường đua ngựa Thiên Mã – Madagui là một trong những địa điểm tập trung nuôi dưỡng ngựa Thoroughbred với số lượng nhiều. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam các nghiên cứu về ngựa Thoroughbred nói chung cũng như bệnh giun, sán ký sinh đường ruột trên giống ngựa này nói riêng chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Để điều trị bệnh giun, sán ký sinh đường ruột trên ngựa cần phải thực hiện 1 các biện pháp phòng trị tổng hợp.
Một trong số những biện pháp được sử dụng phổ biến đó là dùng thuốc tẩy giun sán. Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc tẩy giun, sán khác nhau với khả năng điều trị cũng khác nhau. Vì vậy, việc so sánh và tìm ra loại thuốc có khả năng điều trị tốt nhất là điều cần thiết trong chăn nuôi ngựa. Nếu đánh giá chính xác được khả năng điều trị giun, sán ký sinh của các loại thuốc sẽ góp phần nâng cao sức khỏe đàn ngựa, mang lại hiệu quả tốt nhất trong điều trị bệnh giun, sán ký sinh đường ruột và hạn chế thấp nhất những tổn thất kinh tế mà bệnh gây ra cũng như làm cơ sở cho những công trình nghiên cứu về sau.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài “Phân tích khả năng điều trị bệnh ký sinh trùng đường ruột của một số loại thuốc trên giống ngựa lại nhập khẩu” được thực hiện tại Trường đua Thiên Mã – Madagui xã Đạ Oai, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Đánh giá tình trạng nhiễm giun, sán ký sinh đường ruột và so sánh khả năng điều trị của một số loại thuốc tẩy trừ giun, sán ký sinh trên ngựa Thoroughbred. Mục tiêu cụ thể Xác định được thành phần, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm các loài giun, sán ký sinh đường ruột trên ngựa tại khu vực nghiên cứu.
Đánh giá được hiệu lực tẩy sạch, tỷ lệ giảm trứng, độ an toàn và so sánh được khả năng điều trị giun, sán ký sinh đường ruột bằng 2 loại thuốc tẩy giun, sán fenbendazole và ivermectin. Yêu cầu Tất cả các thông tin và số liệu được thu thập bằng phương pháp nghiên cứu hồi cứu quan sát, phỏng vấn, điều tra và ghi chép lại chi tiết một cách trung thực. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về ngựa Thoroughbred 1.
Nguồn gốc và đặc điểm chung 1. Nguồn gốc Ngựa Thoroughbred là giống ngựa được biết đến nhiều ở Châu Âu, có nguồn gốc từ nước Anh vào thế kỷ XVII – thời điểm môn đua ngựa rất phổ biến và việc nuôi ngựa để đua là một việc thiết yếu (Cassidy R. Để tạo ra giống ngựa Thoroughbred, người ta sử dụng ba con ngựa giống gốc Barb, Turkomen và Ả Rập nhập từ Trung Đông đến Vương quốc Anh và tiến hành lai tạo với giống ngựa cái bản địa. Mục đích là tạo ra một giống ngựa khỏe mạnh, tinh khôn và có sức bền hơn so với giống ngựa bản địa.
Kết quả đã tạo ra được một giống ngựa khỏe mạnh, sức bền cao và tốc độ ổn định trong khoảng cách dài – đây là những phẩm chất tốt mang lại một chiều hướng mới và tích cực cho môn thể thao đua ngựa đang ngày càng phát triển và rất được giới quý tộc thời đó ủng hộ (Cunningham và cộng sự, 2001). Nguồn gốc ngựa đực của giống ngựa Thoroughbred được ghi chép rõ ràng là từ một số ít ngựa giống Trung Đông, trong đó có ảnh hưởng nhất là Barb, Turkomen và Ả Rập (Hewitt A và cộng sự, 2006). Tuy nhiên, nguồn gốc của ngựa Thoroughbred cái ít được biết đến. Sách General Studbook – cơ quan đăng ký giống cho ngựa Thoroughbred (Montgomery, 1980) các tài liệu phả hệ giống ngựa Thoroughbred có nền móng vào thế kỷ XVII, xác định có 74 ngựa cái.
Sách General Studbook ngày nay đòi hỏi phải có hồ sơ toàn diện, bao gồm xác minh đặc điểm di truyền về huyết thống của ngựa. Tuy nhiên, trong lịch sử ban đầu của giống ngựa này, người ta chỉ ghi chép những chi tiết cơ bản về ngựa cái vì giống cái không được coi là quan trọng (Prior, 1924). Đặc điểm chung Ngựa Thoroughbred có tinh thần cao và được biết đến nhờ sự can đảm của chúng. Tại Việt Nam, giống ngựa Thoroughbred ít được biết đến và được chăn nuôi không phổ biến như các giống ngựa khác, chúng chỉ tập trung ở một số địa điểm nuôi nhất định, trường đua ngựa Thiên Mã – Madagui hiện tại nuôi tập trung với số 3 lượng lớn giống ngựa này.
Ngựa Thoroughbred có các đặc điểm như đầu nhỏ, mắt to, cổ nhỏ, dài và hơi cong hướng về phía trước. Lưng dài, vai dốc và ngực rộng. Chân dài, cổ chân (phần dưới chân ngay trên móng guốc) dài, dốc và móng guốc nhỏ và chắc chắn (Brent Kelley, 2001). Trong nhiều thập kỷ, ngựa Thoroughbred đã được coi trọng như một loài ngựa đua và là một trong những giống ngựa đua có giá trị nhất thế giới (Cassidy, 2002).
Ngựa Thoroughbred đực trưởng thành cao 159 cm và vòng ngực 183 cm, ngựa cái có số đo lần lượt là 156,4 cm và 179,2 cm, sức kéo lớn nhất là 40 kg (Scott và cộng sự, 2020).1: Ngựa Thoroughbred được nuôi tại các trại ngựa thuộc trường đua ngựa Thiên Mã – Madagui tỉnh Lâm Đồng Trong hơn 300 năm giống ngựa này không ngừng được cải tiến về nòi giống để nổi bật những tố chất cần thiết của một chiến mã chuyên nghiệp gồm cao to, mạnh mẽ, thể hình đẹp và tốc độ. Tốc độ đạt nhanh nhất của chúng ở cự ly từ 1 – 3 km và tốc độ cực đại hơn 60 km/giờ. Ngựa Thoroughbred là một trong những giống ngựa đua tốt nhất thế giới hiện nay. Với cấu tạo cơ thể vượt trội hơn so với các loài ngựa khác nên ngựa Thoroughbred có tốc độ vượt trội hơn hẳn so với bất cứ loại ngựa nào khác về tốc độ.
Tuy nhiên, sức đề kháng của chúng kém xa so với các loài gia súc và ngựa cỏ nên chi phí chăm sóc chúng rất tốn kém (Vamplew và Kay, 2005). Một số loài giun, sán ký sinh đường ruột phổ biến phát hiện trên ngựa trong nghiên cứu Theo Phan Thế Việt và cộng sự (1977), Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996), phát hiện 12 loài giun tròn ký sinh đường tiêu hóa của ngựa. Hoàng Văn Dũng (2001) đã phát hiện và thống kê được 13 loài giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở ngựa (gồm 12 loài đã công bố trước đó và 1 loài Strongyloides westeri, trong đó có 10 loài trên tổng số 13 loài (chiếm 76,92%) ký sinh ở ruột ở ngựa bao gồm: Parascaris equorum, Strongyloides westeri, Oxyuris equi, Strongylus equinus, Alfortia edentatus, Delafondia vulgaris, Triodontophorus serratus, Trichonema longibursatum, Trichonema catinatum và Cylicocyclus nassatum. Loài Strongylus equinus (Muller, 1780) Bệnh do loài Strongylus equinus, thuộc họ Strongylidae gây ra.
Giun ký sinh ở ruột già và manh tràng ngựa. Vị trí Strongylus equinus trong hệ thống phân loại động vật Theo Phan Thế Việt và cộng sự (1977), Trịnh Văn Thịnh và cộng sự (1978), Nguyễn Thị Kỳ (1994), Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996) thì vị trí của Strongylus equinus trong hệ thống phân loại động vật như sau: Lớp giun tròn: Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Strongylida Railhet et Henry, 1913 Họ Strongylidae Baird, 1853 Phân họ Strongylinae Railliet, 1893 Giống Strongylus Muuer, 1780 Loài Strongylus equinus Muuer, 1780. Đặc điểm hình thái Giun đực dài 25 – 35 mm, rộng nhất 1,10 – 1,35 mm. Phễu miệng có mép hơi vặn xoắn, vành tia ngoài có 42 – 50 tia, vành tia trong có 42 – 80 tia.
Túi sinh dục có 2 thuỳ bên rộng và to, thuỳ giữa ngắn và hẹp hơn. Hai gai sinh dục dài bằng nhau (3 mm). Giun cái dài 39 – 45 mm, rộng 1,8 – 2,1 mm, đuôi mảnh và thẳng. Lỗ 5 sinh dục cách mút đuôi 11 – 14 mm.
Trứng có kích thước 0,085 x 0,050 mm (Nguyễn Thị Lê, 1996).2: Trứng Strongylus equinus dưới kính hiển vi (Nguồn: https://shire.au/parasites/gallery/nematodes-gallery. Vòng đời Hình 1.3: Vòng đời của Strongylus equinus ở ngựa (Nguồn: Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) Theo Skrjabin và cộng sự (1963) Strongylus equinus có vòng đời phát triển trực tiếp. Trứng theo phân ra ngoài gặp nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, sau 2 – 8 ngày thì phôi thai trong trứng có ấu trùng. Trứng nở ra ấu trùng kỳ I ở ngoại cảnh, ấu trùng này qua 2 lần lột xác thành ấu trùng có sức gây bệnh.
Ngựa nuốt phải ấu trùng này lẫn vào thức ăn, nước uống thì mắc bệnh. Tới ruột, ấu trùng mất vỏ, chui vào niêm mạc ruột hình thành kén, sau đó ấu trùng theo màng treo ruột di hành về tuyến tụy và xoang bụng. Ở đó, ấu trùng lột xác lần 3 và 4 rồi trở về ký sinh ở ruột già và phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời là 8 6 tháng.
Dịch tễ học Khu vực mắc bệnh: bệnh phân bố rộng khắp các nới trên thế giới, ở Việt Nam phân bố rộng khắp cả nước.