Tổng quan luận án
Chăn nuôi gia cầm là ngành kinh tế nông nghiệp quan trọng tại Việt Nam, chiếm tỷ trọng sản lượng lớn và tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2020, ngành nông, lâm, thủy sản chiếm khoảng 15% tổng sản phẩm quốc nội trong 9 tháng đầu năm 2020, với lực lượng lao động nông nghiệp chiếm trên 65% tổng lực lượng lao động toàn quốc. Riêng sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2020 đạt 931,4 nghìn tấn (tăng 13,5% so với cùng kỳ) và sản lượng trứng gia cầm đạt 9,2 tỷ quả. Huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang là huyện miền núi phát triển mạnh mô hình chăn nuôi gà đồi theo quy mô gia trại và trang trại hàng hóa, hình thành thương hiệu "Gà đồi Yên Thế", đóng góp lớn vào công tác giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương.
Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô đàn và phương thức chăn nuôi gia trại phân tán trong khu dân cư làm phát sinh chất thải chăn nuôi lớn, dẫn đến ô nhiễm môi trường không khí, đất và nguồn nước. Người chăn nuôi gà phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố có hại trong môi trường lao động như vi khí hậu bất lợi, bụi hữu cơ (lông vũ, móng, thức ăn chăn nuôi, chất độn chuồng), các hơi khí độc ($CO_2$, $H_2S$, $NH_3$) và vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn hiếu khí, nấm mốc, virus cúm gia cầm). Nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ bụi tại chuồng trại chăn nuôi gà có thể vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép từ 4 đến 27 lần, trong khi tỷ lệ sử dụng phương tiện bảo hộ lao động của người nông dân còn rất thấp. Tình trạng này làm gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh liên quan nghề nghiệp, đặc biệt là bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da và tổn thương mắt.
Trước thực tế đó, nghiên cứu về điều kiện lao động, mô hình bệnh tật và hiệu quả của các giải pháp can thiệp tại các hộ chăn nuôi quy mô gia trại ở vùng miền núi còn rất hạn chế. Để giải quyết khoảng trống này, nghiên cứu sinh Dương Hồng Thắng đã thực hiện luận án tiến sĩ y tế công cộng với đề tài: "Điều kiện lao động, một số bệnh liên quan nghề nghiệp ở người chăn nuôi gà tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang và hiệu quả của giải pháp can thiệp", dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đỗ Văn Hàm và PGS.TS. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên (năm 2021).
Luận án xác định và giải quyết 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng điều kiện môi trường lao động và một số bệnh liên quan nghề nghiệp ở người chăn nuôi gà tại 02 xã Canh Nậu và Đồng Vương – huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang năm 2017.
- Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống ô nhiễm môi trường chăn nuôi và phòng bệnh ở người chăn nuôi gà.
- Đánh giá hiệu quả giải pháp nhằm phòng chống một số bệnh ở người chăn nuôi gà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đơn vị mẫu và đối tượng nghiên cứu:
- Hộ gia đình chăn nuôi gà: Các hộ đạt quy mô gia trại, thường xuyên nuôi từ 200 đến 2000 con gà trưởng thành trong chuồng/trại, có thời gian chăn nuôi tối thiểu 02 năm liên tục và có nguồn thu nhập chính từ chăn nuôi gà.
- Người lao động trực tiếp chăn nuôi gà: Độ tuổi từ 18 đến 65 tuổi, trực tiếp làm công việc chăn nuôi gà liên tục từ 02 năm trở lên, thời gian làm việc từ 04 ngày trở lên trong một tuần và mỗi ngày trực tiếp làm việc từ 04 giờ trở lên.
- Điều kiện môi trường lao động: Các chỉ số vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió), mật độ vi sinh vật (vi khuẩn hiếu khí, tổng số nấm), khoảng cách chuồng trại, hố thu gom phân đến nhà ở và nguồn nước.
- Phạm vi không gian: 02 xã Canh Nậu và Đồng Vương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Đây là hai xã thuần nông miền núi có số lượng hộ chăn nuôi gà đồi quy mô gia trại lớn nhất huyện.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai từ ngày 01/4/2017 đến ngày 30/4/2019, phân chia thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (01/4/2017 - 31/10/2017): Nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá thực trạng trước can thiệp.
- Giai đoạn 2 (01/11/2017 - 31/10/2018): Triển khai các hoạt động can thiệp cộng đồng.
- Giai đoạn 3 (01/11/2018 - 30/4/2019): Điều tra thu thập số liệu sau can thiệp và phân tích hiệu quả.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến môi trường lao động chăn nuôi, sức khỏe người lao động và các giải pháp can thiệp.
Về môi trường lao động và ô nhiễm trong chăn nuôi gia cầm, các nghiên cứu quốc tế từ sớm đã cảnh báo mức độ nguy hại của các yếu tố lý, hóa, sinh học. Senkman G. (1979) xác định môi trường chăn nuôi gà bị ô nhiễm nặng với nồng độ $NH_3$ đạt 48 - 76 $mg/m^3$ (tiêu chuẩn cho phép là 20 $mg/m^3$), $H_2S$ đạt 39 $mg/m^3$ (tiêu chuẩn 10 $mg/m^3$), $CO_2$ từ 0,3 - 0,45% (tiêu chuẩn 0,1%), và bụi lắng kích thước < 5 µm dao động từ 50 - 280 $mg/m^3$ khi làm vệ sinh chuồng trại. Steven W. chỉ ra rằng người chăn nuôi gia cầm thường xuyên làm việc 7 ngày/tuần trong môi trường tích tụ khí độc do chất độn chuồng, phân và nước tiểu, đồng thời chịu sự tấn công của côn trùng và nội độc tố vi khuẩn. Hautekiet V. và cộng sự (2008) khẳng định việc thiếu quy hoạch xử lý môi trường trong chăn nuôi làm tăng lượng khí độc và vi sinh vật phát tán ra cộng đồng. Justyna Skóra và cộng sự (2016) chứng minh bụi lắng trong trại gia cầm là vật mang vi sinh vật, chất chuyển hóa thứ cấp và mùi hôi gây nguy hại trực tiếp đến hô hấp của người lao động.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Hoàng Văn Bính và cộng sự (1978), Bùi Thụ, Lê Gia Khải và cộng sự (1983) ghi nhận nồng độ bụi tại các trại nuôi gà cao gấp 4 đến 27 lần tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2015-2016) phối hợp với Bộ Nông nghiệp chỉ rõ quy mô đàn gia cầm tại Việt Nam tăng trưởng 4,56%/năm trong giai đoạn 2005-2014, với 89,6% là hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và 80% nằm xen kẽ trong khu dân cư, gây ô nhiễm chất thải cục bộ nghiêm trọng do dư lượng kháng sinh và đạm chưa phân hủy. Nguyễn Thế Hinh (Tạp chí Môi trường) nhấn mạnh ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ nước thải chăn nuôi. Hoàng Thị Minh Hiền và cộng sự (2012) khảo sát thấy 42,5% chuồng trại xây sai hướng, 63% chuồng cách nhà ở dưới 10m. Hà Hữu Tùng (2013) ghi nhận 56,7% hộ có chuồng trại cách nhà ở dưới 1m và khoảng cách từ giếng nước tới chuồng nuôi chỉ từ 1 đến 5m.
Về mô hình bệnh tật liên quan nghề nghiệp, Lenhart (1998) ghi nhận lao động chăn nuôi gà không có bảo hộ lao động có nguy cơ cao mắc bệnh viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm phế nang dị ứng, hội chứng nhiễm độc bụi hữu cơ và chấn thương cơ xương khớp khi bắt gà. Brhel (2003) tại Séc thống kê 2127 ca bệnh hô hấp nghề nghiệp mới mắc từ 1996 - 2000, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao về hen nghề nghiệp (12,1%) và viêm mũi dị ứng (5,7%). Lee K. và Lim H.S. (2008) tại Hàn Quốc ghi nhận người chăn nuôi tiếp xúc nhiều với mầm bệnh ký sinh trùng và sốt mò. Hamid A. và cộng sự tại Pakistan ghi nhận 21,1% công nhân trại gà mắc bệnh da do nhiệt, 38% kiệt sức vì nóng, 16,9% đến 31% có vấn đề về mắt và 65% có rối loạn thông khí phổi hạn chế. Yasmeen R. và cộng sự tại Pakistan chỉ ra suy giảm chức năng hô hấp rõ rệt ở nhóm có thâm niên chăn nuôi trên 11 năm.
Tại Việt Nam, Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường khảo sát công nhân chăn nuôi tại Công ty Phúc Thịnh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng là 60,3% (viêm mũi dị ứng ở nhóm nuôi gà là 22,7%), bệnh về mắt chiếm 23,5%, bệnh ngoài da chiếm 37,8% và viêm phế quản mạn tính chiếm 47,6%. Hà Hữu Tùng (2013) ghi nhận người trực tiếp chăn nuôi có tỷ lệ mắc viêm mũi họng mạn tính (43,8%), viêm phế quản mạn tính (29,2%), bệnh ngoài da (35,7%) cao hơn nhiều lần so với nhóm ít tiếp xúc. Ngoài ra, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và nghiên cứu của Trần Như Dương và cộng sự (2003-2014) về 127 ca cúm A/H5N1 khẳng định phần lớn ca nhiễm ở người đều liên quan đến chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ tại gia đình (96,7% có tiền sử phơi nhiễm).
Về kiến thức, thực hành và giải pháp can thiệp, Nguyễn Văn Lành và cộng sự (2016), Trương Hà Thái và cộng sự (2008), Phan Quốc Tuấn và cộng sự (2016) đều khẳng định tỷ lệ người chăn nuôi có kiến thức và thực hành an toàn sinh học chưa đạt còn ở mức cao. Các nghiên cứu quốc tế như Cui B. và Liu Z.P. (2016), Huang Z. và cộng sự (2016) nhấn mạnh vai trò quyết định của giáo dục truyền thông thay đổi hành vi dự phòng. Về can thiệp bảo vệ sức khỏe người chăn nuôi, các công trình áp dụng Hệ thống kiểm soát phân tầng (Hierarchy of Controls), Mô hình phòng ngừa cấp 1 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO giai đoạn 2008-2017, 2012-2017), Chương trình AH&M của Đại học Deakin (Úc, 2010-2013), mô hình Lay Health Promoter của Grywacz J.G. và cộng sự (2010), cùng mô hình kết hợp BOSH & WIND do Cục Quản lý môi trường y tế triển khai tại Thừa Thiên Huế (2015) và mô hình của Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Đỗ Hàm, Trần Văn Tập (2009 tại Phú Bình - Thái Nguyên).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các nghiên cứu trong nước trước đây tập trung vào công nhân tại các nông trường, trang trại chăn nuôi công nghiệp tập trung quy mô lớn hoặc hộ nuôi gia súc (lợn, bò). Luận án của Dương Hồng Thắng lựa chọn đi sâu vào nhóm hộ chăn nuôi gà quy mô gia trại (200 - 2000 con) tại địa bàn trung du - miền núi Yên Thế, nơi có mật độ chăn nuôi dày đặc nhưng tập quán canh tác nông hộ còn tồn tại nhiều bất cập. Luận án giải quyết toàn diện mối liên hệ giữa điều kiện vi khí hậu, nồng độ vi sinh vật trong chuồng trại với tỷ lệ mắc các bệnh hô hấp, da, mắt của người chăn nuôi, đồng thời thiết kế và đánh giá một mô hình can thiệp cộng đồng kết hợp y tế - nông nghiệp phù hợp với nguồn lực địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên các khung lý thuyết, quy chuẩn pháp lý và phương pháp nghiên cứu dịch tễ học y tế công cộng:
- Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết:
- Khái niệm môi trường, môi trường lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, yếu tố có hại, tác hại nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan nghề nghiệp được căn cứ theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Tiêu chí phân loại quy mô chăn nuôi gia cầm của Cục Thú y: Hộ gia đình nhỏ lẻ (50 - 200 con), gia trại (200 đến dưới 2000 con) và trang trại (từ 2000 con trở lên).
- Hệ thống kiểm soát phân tầng (Hierarchy of Controls) bao gồm 5 cấp độ can thiệp: Loại bỏ nguy cơ (Elimination), Thay thế (Substitution), Kiểm soát kỹ thuật (Engineering Controls), Kiểm soát hành chính (Administrative Controls) và Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân (Personal Protective Equipment - PPE).
- Mô hình các giải pháp phòng ngừa cấp 1 về sức khỏe nghề nghiệp của WHO: Tập trung can thiệp đồng thời vào 3 thành tố: cải thiện điều kiện môi trường làm việc, thay đổi hành vi an toàn của người lao động và củng cố năng lực cung cấp dịch vụ y tế lao động cơ bản.
- Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính:
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện thông qua các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo phụ trách văn hóa - xã hội xã, cán bộ trạm y tế, cán bộ chăn nuôi thú y xã; tổ chức thảo luận nhóm tập trung với người chăn nuôi gà nhằm nhận diện nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường chuồng trại, rào cản thực hành an toàn và xác định danh mục các vấn đề ưu tiên can thiệp.
- Nghiên cứu định lượng: Thiết kế mô tả cắt ngang trước can thiệp (năm 2017) và nghiên cứu can thiệp cộng đồng theo thiết kế trước - sau có so sánh (2017 - 2019).
- Công thức và quy mô chọn mẫu định lượng:
- Cỡ mẫu hộ gia đình được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó, độ tin cậy ấn định ở mức 95% ($Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$); $p = 0{,}9$ (tỷ lệ chuồng trại chăn nuôi gia cầm bẩn theo nghiên cứu của Hà Hữu Tùng năm 2013); sai số tuyệt đối chọn $d = 0{,}055$. Kết quả tính toán cho thấy cỡ mẫu tối thiểu là 115 hộ gia đình cho mỗi xã. Trong thực tế triển khai, tác giả đã chọn điều tra toàn bộ 120 hộ gia đình tại xã Canh Nậu và 116 hộ gia đình tại xã Đồng Vương (tổng cộng 236 hộ gia đình chăn nuôi gia trại).
- Chọn mẫu người trực tiếp chăn nuôi: Chọn từ 1 đến 2 người trực tiếp làm việc thường xuyên trong mỗi hộ gia đình đủ tiêu chuẩn lựa chọn.
- Phương pháp thu thập và công cụ đo đạc số liệu:
- Đánh giá điều kiện môi trường lao động: Sử dụng bảng kiểm khảo sát khoảng cách chuồng trại, giếng nước, nhà ở và hố phân. Tiến hành đo đạc các yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) tại chuồng nuôi theo mùa bằng máy đo vi khí hậu chuyên dụng; lấy mẫu không khí chuồng nuôi để xét nghiệm tổng số vi khuẩn hiếu khí và tổng số nấm theo phương pháp thạch thường, đối chiếu với Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và Tiêu chuẩn cho phép (TCCP) của Bộ Y tế.
- Đánh giá kiến thức, thực hành và mô hình bệnh tật: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc chuẩn hóa về nguyên nhân ô nhiễm, kỹ thuật ủ phân, vệ sinh khử trùng, sử dụng bảo hộ lao động và kiến thức bệnh lây truyền. Khám lâm sàng chuyên khoa (hô hấp, da liễu, mắt) do đội ngũ bác sĩ chuyên khoa thực hiện theo tiêu chuẩn chẩn đoán y học.
- Phương pháp xử lý số liệu và đạo đức nghiên cứu: Số liệu được làm sạch, quản lý và phân tích bằng các thuật toán thống kê y học; sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), xác định giá trị p, tính toán chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ). Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học, được cấp phép và có sự đồng thuận tham gia của người dân địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường lao động nông nghiệp và chăn nuôi gia cầm. Tác giả phân tích tính chất đặc thù của lao động thủ công trong gia trại, chỉ ra nguồn gốc phát sinh bụi hữu cơ từ chất sừng, lông gà, thức ăn hỗn hợp, chất độn chuồng và các loại nấm mốc. Về mặt hóa học, chương tổng quan luận giải cơ chế hình thành khí $CO_2$, $H_2S$ (phân hủy kỵ khí chất thải) và $NH_3$ (tích tụ từ đạm dư thừa và nước tiểu phân gia cầm, đặc biệt tăng cao vào buổi sáng do chuồng nuôi đóng kín ban đêm). Về sinh học, chương chỉ rõ nguy cơ ô nhiễm vi khuẩn hiếu khí, nấm bào tử và trứng giun truyền qua đất do tập quán dùng phân tươi.
Chương này cũng tổng hợp sâu rộng bức tranh dịch tễ học bệnh tật của người chăn nuôi gia cầm qua các tài liệu trong và ngoài nước: các bệnh viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm phế quản phổi mạn tính (VPQPMT), tổn thương viêm da tiếp xúc, nhiễm nấm, kích ứng viêm kết mạc mắt và dịch bệnh lây truyền từ động vật sang người như cúm gia cầm A/H5N1. Đồng thời, tác giả tổng thuật các khung can thiệp quốc tế (Hierarchy of Controls, mô hình phòng ngừa cấp 1 của WHO, chương trình đào tạo nông nghiệp tại Úc, Hoa Kỳ, Trung Quốc) và các mô hình tại Việt Nam (BOSH & WIND tại Huế, can thiệp truyền thông tại Thái Nguyên), kết hợp giới thiệu tổng quan điều kiện địa lý tự nhiên, xã hội và lịch sử phát triển vùng chăn nuôi gà đồi huyện Yên Thế.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận dịch tễ học và can thiệp cộng đồng. Tác giả xác định tiêu chuẩn chọn mẫu nghiêm ngặt: hộ chăn nuôi quy mô gia trại 200 - 2000 con tại xã Canh Nậu (120 hộ) và xã Đồng Vương (116 hộ); người chăn nuôi từ 18 - 65 tuổi có thâm niên từ 2 năm trở lên và trực tiếp lao động từ 4 giờ/ngày, 4 ngày/tuần. Thiết kế can thiệp có đối chứng so sánh trước - sau được vạch rõ qua 3 giai đoạn kéo dài 25 tháng (từ tháng 4/2017 đến tháng 4/2019).
Chương này chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật:
- Phương pháp đo đạc vi khí hậu và lấy mẫu vi sinh vật không khí chuồng trại.
- Quy chuẩn đánh giá nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió theo TCVN và TCCP.
- Tiêu chuẩn khám chẩn đoán lâm sàng các bệnh hô hấp (viêm mũi họng mạn, VPQPMT), bệnh ngoài da và bệnh về mắt.
- Bảng câu hỏi chấm điểm kiến thức và thực hành phòng chống ô nhiễm, kỹ thuật ủ phân, sử dụng bảo hộ lao động.
- Phương pháp nghiên cứu định tính xác định vấn đề ưu tiên can thiệp.
- Các quy trình kiểm soát sai số, mã hóa số liệu và cam kết đạo đức nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình điều tra cắt ngang và can thiệp:
- Đặc điểm đối tượng và môi trường chuồng trại: Thống kê cơ cấu tuổi, giới tính, trình độ học vấn và tuổi nghề của người chăn nuôi tại hai xã. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ lớn các hộ đặt chuồng trại và hố phân ở khoảng cách rất gần nhà ở và giếng nước (dưới 5m), phần lớn hố thu gom phân không có nắp đậy hoặc chưa xây dựng đúng quy cách kỹ thuật.
- Thực trạng vi khí hậu và vi sinh vật: Số liệu đo đạc nhiệt độ, độ ẩm không khí và vận tốc gió tại chuồng trại chăn nuôi gà biến động bất lợi theo mùa. Mật độ vi khuẩn hiếu khí và tổng số nấm trong không khí chuồng nuôi vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép đối với không khí môi trường lao động.
- Mô hình bệnh tật trước can thiệp: Người trực tiếp chăn nuôi gà có tỷ lệ mắc cao đối với các bệnh viêm mũi họng mạn tính, viêm phế quản mạn tính, bệnh ngoài da và bệnh đau mắt đỏ/kích thích niêm mạc mắt. Phân tích thống kê xác nhận mối liên quan có ý nghĩa giữa thâm niên tuổi nghề chăn nuôi, tần suất sử dụng trang bị bảo hộ lao động với tỷ lệ mắc các bệnh hô hấp, da và mắt.
- Kiến thức, thực hành và kết quả can thiệp: Trước can thiệp, tỷ lệ người chăn nuôi có kiến thức đúng và thực hành đạt chuẩn về vị trí ủ phân, thời gian ủ, quy trình phun khử trùng và mang bảo hộ lao động còn thấp. Sau khi triển khai giải pháp can thiệp tổng hợp (tập huấn, truyền thông giáo dục sức khỏe, hướng dẫn kỹ thuật tại chỗ, tư vấn y tế), tỷ lệ người có kiến thức và thực hành đúng tăng lên rõ rệt. Điểm kiến thức và thực hành chung tại cả hai xã sau can thiệp đều tăng có ý nghĩa thống kê; tỷ lệ mắc các bệnh hô hấp, bệnh ngoài da và bệnh mắt ở người chăn nuôi giảm rõ rệt (thể hiện qua chỉ số hiệu quả can thiệp CSHQ); can thiệp nhận được sự đồng thuận và đánh giá cao của cộng đồng.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện giải các kết quả nghiên cứu trong sự đối sánh với các công trình khoa học trong nước và quốc tế. Tác giả luận giải việc bố trí chuồng trại, hố phân sát khu nhà ở và nguồn nước bắt nguồn từ tập quán chăn nuôi gia đình truyền thống và diện tích đất đai hạn hẹp của các hộ miền núi, biến nơi ở thành vùng phơi nhiễm liên tục với khí độc ($NH_3$, $H_2S$) và bụi hữu cơ. Tác giả bàn luận sâu về mối tương quan giữa sự gia tăng mật độ vi khuẩn hiếu khí, nấm mốc và nồng độ bụi hô hấp với tỷ lệ suy giảm chức năng hô hấp, kích ứng kết mạc mắt và viêm da tiếp xúc ở người chăn nuôi gà đồi, tương đồng với phát hiện của Lenhart, Brhel, Hamid A. và Hà Hữu Tùng.
Chương bàn luận phân tích nguyên nhân người chăn nuôi ít sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân do thói quen chủ quan, cảm giác vướng víu, nóng bức khi lao động thể lực nặng nhọc. Từ đó, tác giả khẳng định tính ưu việt của giải pháp can thiệp cấp độ 1 dựa vào cộng đồng: việc kết hợp truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp với sự tham gia của mạng lưới cán bộ y tế cơ sở và cán bộ thú y xã giúp nâng cao nhận thức, chuyển biến hành vi thực hành ủ phân, khử trùng và sử dụng bảo hộ lao động. Cuối chương, tác giả phân tích các yếu tố thuận lợi, rào cản kinh phí và nêu rõ một số hạn chế của nghiên cứu.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tổng hợp các phát hiện khoa học và đưa ra các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầy đủ, có hệ thống về thực trạng điều kiện môi trường lao động (vi khí hậu, vi khuẩn hiếu khí, nấm) và mô hình bệnh tật liên quan nghề nghiệp đặc thù của người chăn nuôi gà quy mô gia trại tại một vùng đồi núi trọng điểm phía Bắc.
- Xác lập bằng chứng dịch tễ học rõ ràng về mối liên quan giữa điều kiện chuồng trại, thời gian phơi nhiễm nghề nghiệp (tuổi nghề) và thói quen sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân với nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, bệnh da liễu và bệnh mắt ở người chăn nuôi gà.
- Bổ sung cơ sở lý luận về tính khả thi và hiệu quả của mô hình can thiệp phòng ngừa cấp 1 kết hợp liên ngành y tế - thú y dựa vào cộng đồng trong việc cải thiện kiến thức, thực hành an toàn sinh học và giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh liên quan nghề nghiệp cho người nông dân.
- Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp ứng dụng:
- Xây dựng thành công quy trình can thiệp giáo dục truyền thông sức khỏe và hướng dẫn thực hành vệ sinh lao động phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của các hộ chăn nuôi gia trại, có thể tận dụng nguồn lực y tế thôn bản và khuyến nông sẵn có tại địa phương.
- Minh chứng tính hiệu quả thực tế của các biện pháp can thiệp: cải thiện tỷ lệ thực hành ủ phân đúng kỹ thuật, tăng tỷ lệ phun thuốc khử trùng định kỳ, nâng cao tỷ lệ sử dụng khẩu trang, ủng, găng tay khi chăm sóc gà, từ đó làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh hô hấp, viêm da và bệnh mắt ở người chăn nuôi tại hai xã nghiên cứu.
| Nhóm nội dung nghiên cứu |
Chỉ số / Công cụ khảo sát chính trong luận án |
Kết quả và định hướng đánh giá |
| Quy mô mẫu nghiên cứu |
236 hộ gia đình chăn nuôi gia trại (200 - 2000 con gà) |
Xã Canh Nậu: 120 hộ; Xã Đồng Vương: 116 hộ. |
| Môi trường lao động chuồng trại |
Đo nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió; mật độ vi khuẩn hiếu khí và nấm |
Vi khí hậu biến động theo mùa; mật độ vi khuẩn hiếu khí và nấm vượt nhiều lần TCCP. |
| Bố trí chuồng trại và hố phân |
Bảng kiểm đo khoảng cách tới nhà ở và giếng nước sinh hoạt |
Tỷ lệ lớn hộ có khoảng cách chuồng trại, hố phân tới nhà ở < 5m, nguy cơ ô nhiễm cao. |
| Bệnh liên quan nghề nghiệp |
Khám lâm sàng chuyên khoa hô hấp, da liễu và mắt |
Tỷ lệ mắc cao: Viêm mũi họng mạn, VPQMT, bệnh ngoài da, kích thích mắt; liên quan đến tuổi nghề và BHLĐ. |
| Kiến thức và thực hành trước can thiệp |
Bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn hóa về vệ sinh chuồng trại, ủ phân, BHLĐ |
Tỷ lệ đạt còn thấp; thiếu hiểu biết về kỹ thuật ủ phân đúng cách và bệnh lây từ gia cầm sang người. |
| Hiệu quả giải pháp can thiệp |
Đánh giá trước - sau có so sánh; tính toán chỉ số hiệu quả (CSHQ) |
Điểm kiến thức và thực hành tăng có ý nghĩa thống kê; giảm tỷ lệ mắc bệnh hô hấp, da, mắt sau can thiệp. |
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Chính quyền địa phương cần đưa công tác quản lý vệ sinh môi trường chăn nuôi và an toàn lao động vào quy ước nông thôn mới; quy hoạch khu vực chăn nuôi gia trại tách biệt khỏi khu dân cư và giếng nước sinh hoạt.
- Ngành y tế cơ sở (Trung tâm y tế huyện, Trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn bản) cần tăng cường phối hợp chặt chẽ với Chi cục Chăn nuôi và Thú y tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật ủ phân có che phủ, hướng dẫn lựa chọn và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân đúng quy cách.
- Đưa chương trình khám sàng lọc định kỳ phát hiện sớm các bệnh hô hấp mạn tính, bệnh da nghề nghiệp vào hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu thường quy cho người chăn nuôi gia cầm tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Địa bàn nghiên cứu mới tập trung tại 02 xã thuần nông (Canh Nậu và Đồng Vương) thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang với mô hình đặc thù là chăn nuôi gà đồi bán thả tự do quy mô gia trại. Do đó, các kết quả và chỉ số dịch tễ học chưa thể đại diện hoàn toàn cho các vùng sinh thái chăn nuôi gia cầm khác như vùng đồng bằng chiêm trũng hay các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp nuôi nhốt lồng kín quy mô trang trại lớn.
- Thời gian can thiệp và theo dõi sau can thiệp kéo dài 12 tháng (từ tháng 11/2017 đến tháng 10/2018), do đó chưa đánh giá được tính bền vững lâu dài của việc duy trì hành vi sử dụng bảo hộ lao động và xử lý chất thải của người dân sau khi kết thúc dự án nghiên cứu.
- Việc đo đạc môi trường lao động mới chỉ tập trung vào các yếu tố vi khí hậu cơ bản (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) và vi sinh vật tổng thể (vi khuẩn hiếu khí, tổng số nấm), chưa tiến hành quan trắc liên tục 24/24h nồng độ các loại khí độc vi lượng ($NH_3$, $H_2S$, $CO$) hay phân lập chi tiết từng chủng vi nấm, virus chuyên biệt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các huyện, tỉnh có quy mô chăn nuôi gia cầm trọng điểm khác thuộc các vùng sinh thái nông nghiệp đa dạng để so sánh đối chứng.
- Tiếp tục theo dõi đoàn hệ dọc nhằm đánh giá sự suy giảm chức năng thông khí phổi (thông qua đo chức năng hô hấp FEV1, FVC) ở người chăn nuôi gia cầm có thâm niên cao.
- Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các chế phẩm sinh học đệm lót chuồng và công nghệ ủ phân kỵ khí nhanh quy mô nông hộ nhằm kiểm soát triệt để khí độc và mầm bệnh phát tán.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Y tế công cộng, Y học lao động, Vệ sinh môi trường dịch tễ, Thú y cộng đồng và Xã hội học sức khỏe. Luận án cung cấp một khung thiết kế nghiên cứu mẫu mực về việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính (mixed-methods), quy trình tính toán cỡ mẫu cho hộ gia đình và cá thể, cũng như bộ công cụ bảng kiểm điều kiện môi trường lao động thực địa.
- Cán bộ y tế dự phòng và kiểm soát bệnh tật (CDC): Cung cấp dữ liệu dịch tễ học thực địa phục vụ công tác giám sát, chẩn đoán sớm và quản lý các bệnh liên quan nghề nghiệp ở khu vực nông thôn; định hướng nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp với nhận thức của người nông dân.
- Cán bộ thú y, khuyến nông và cơ quan quản lý nông nghiệp: Cung cấp căn cứ khoa học về mối liên hệ giữa điều kiện vệ sinh chuồng trại, kỹ thuật ủ phân gia cầm với sức khỏe cộng đồng, hỗ trợ xây dựng các tiêu chuẩn chuồng nuôi an toàn sinh học quy mô gia trại.
- Nhà hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp luận cứ thực tiễn để ban hành các chính sách hỗ trợ nông dân xây dựng hố phân đúng quy chuẩn, trợ giá phương tiện bảo vệ cá nhân và lồng ghép an toàn vệ sinh lao động vào tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn lựa chọn hộ gia đình và người trực tiếp chăn nuôi gà tham gia nghiên cứu của luận án là gì?
Hộ gia đình được lựa chọn phải có quy mô gia trại (thường xuyên nuôi từ 200 đến 2000 con gà trưởng thành), hoạt động chăn nuôi tối thiểu 02 năm liên tục và có thu nhập chính từ gà. Người trực tiếp chăn nuôi được chọn từ 18 đến 65 tuổi, có thâm niên lao động trực tiếp chăn nuôi gà từ 02 năm trở lên, làm việc từ 04 ngày/tuần và từ 04 giờ/ngày trở lên, đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2. Luận án đã tiến hành đo đạc và đánh giá những yếu tố môi trường lao động chuồng trại nào?
Tác giả đã tiến hành đo đạc các yếu tố vi khí hậu gồm nhiệt độ không khí ($^oC$), độ ẩm tương đối (%) và vận tốc gió ($m/s$) theo các mùa; đồng thời xét nghiệm mật độ vi khuẩn hiếu khí và tổng số nấm trong không khí chuồng nuôi, đối chiếu với Tiêu chuẩn Việt Nam và Tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế. Ngoài ra, tác giả sử dụng bảng kiểm để đánh giá khoảng cách thực tế từ chuồng trại, hố phân đến khu nhà ở và giếng nước sinh hoạt.
3. Nhóm bệnh liên quan nghề nghiệp nào được ghi nhận phổ biến nhất ở người chăn nuôi gà tại địa bàn nghiên cứu?
Các bệnh liên quan nghề nghiệp ghi nhận phổ biến nhất bao gồm nhóm bệnh đường hô hấp (viêm mũi họng mạn tính, viêm phế quản phổi mạn tính), các bệnh ngoài da (viêm da tiếp xúc, nấm da, ngứa da) và các bệnh về mắt (kích ứng kết mạc, đỏ mắt, ngứa mắt). Tỷ lệ mắc các bệnh này có mối liên quan chặt chẽ với thâm niên tuổi nghề chăn nuôi và thói quen không mang bảo hộ lao động khi làm việc.
4. Khung lý thuyết can thiệp nào đã được luận án ứng dụng để xây dựng giải pháp?
Luận án đã ứng dụng Hệ thống kiểm soát phân tầng (Hierarchy of Controls) kết hợp với Mô hình phòng ngừa cấp 1 về sức khỏe nghề nghiệp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Mô hình này tập trung can thiệp đồng bộ vào ba thành tố: cải thiện điều kiện môi trường lao động chuồng trại, truyền thông giáo dục thay đổi hành vi thực hành an toàn của người lao động (sử dụng BHLĐ, ủ phân đúng cách, phun khử trùng) và nâng cao năng lực hỗ trợ y tế tại cơ sở.
5. Thời gian và các giai đoạn triển khai nghiên cứu được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu kéo dài trong 25 tháng (từ 01/4/2017 đến 30/4/2019) qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (01/4/2017 - 31/10/2017) là điều tra mô tả cắt ngang trước can thiệp; Giai đoạn 2 (01/11/2017 - 31/10/2018) là giai đoạn triển khai các giải pháp can thiệp cộng đồng; Giai đoạn 3 (01/11/2018 - 30/4/2019) là giai đoạn thu thập số liệu sau can thiệp, phân tích và đánh giá hiệu quả.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Dương Hồng Thắng đã mô tả toàn diện thực trạng điều kiện môi trường lao động ô nhiễm vi khí hậu và vi sinh vật tại các gia trại chăn nuôi gà đồi huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, chỉ ra tỷ lệ mắc cao các bệnh liên quan nghề nghiệp về hô hấp, da và mắt ở người trực tiếp chăn nuôi. Bằng việc phối hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, luận án đã xác định trúng các vấn đề ưu tiên và triển khai thành công mô hình can thiệp phòng ngừa cấp 1 dựa vào cộng đồng. Kết quả nghiên cứu chứng minh giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe kết hợp chuyên môn y tế - thú y đã cải thiện rõ rệt kiến thức, thực hành an toàn sinh học và giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh cho người nông dân chăn nuôi gà. Luận án là công trình khoa học có giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn cao đối với công tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động trong sản xuất nông nghiệp hiện nay.