Chương 1. DIỄN XƯỚNG QUA NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ FOLKLORE HỌC THẾ GIỚI VÀ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM 1.1 Diễn xướng – một phương pháp mới trong nhiều phương pháp nghiên cứu folklore ở phương Tây Câu chuyện về sự ra ñời của thuật ngữ folklore bắt ñầu từ ngày 12 tháng 8 năm 1846, William J. Thoms ñã ñưa ra thuật ngữ này ñể thay thế “thuật ngữ mà nước Anh gọi là Cổ dân tục (Popular literature)”. Khởi ñầu, ông cho rằng ñây là một từ ghép giữa hai từ Dân gian – Tri thức, ñó là tri thức của dân tộc (a good Saxon compound, Folk – Lore, the Lore of the People) [theo 25, tr.
Cho ñến hơn một thế kỷ sau, phương pháp nghiên cứu folklore theo cách tiếp cận diễn xướng mới ra ñời với những tên tuổi các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Dan Ben – Amos, Roger Abraham, Robert Georges và ñược áp dụng rộng rãi từ những năm 70 của thế kỷ 20 với nhiều công trình có giá trị như “Tiến tới những viễn cảnh mới về ngành folklore” (Toward new perspectives in Folklore), Khám phá về dân tộc học lời nói (Explorations in the Ethnography of Speaking) và Folklore: diễn xướng và giao tiếp (Folklore: performance and communication) [theo 25, tr. Như vậy, ñể nghiên cứu folklore, bên cạnh những bước ñi ban ñầu với các cách tiếp cận văn bản hóa theo kiểu dân tộc học ngôn ngữ (ethnolinguistic model) của các nhà folklore học nhân loại học, cách tiếp cận của các nhà folklore theo xu hướng văn học, trường phái ngôn ngữ học Praha … cách tiếp cận diễn xướng ra ñời mang ñến cái nhìn mới mẻ, toàn diện và sống ñộng hơn về folklore. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) 1.2 Diễn xướng như một hành ñộng thông tin ðây là quan ñiểm của một số nhà ngôn ngữ học, trong ñó có các nhà ngôn ngữ học theo lý thuyết ngữ pháp sản sinh, mà tiêu biểu là Noam Chomsky. Trong ngữ pháp sản sinh, cấu trúc hình thức của ngôn ngữ như một hệ thống các quy tắc dùng ñể sản sinh ra và hiểu các câu về mặt ngữ pháp.
Thế nhưng diễn xướng thì trái lại, ñó là lời nói tự nhiên cung cấp thông tin không theo chuẩn ngữ pháp. Do ñó diễn xướng có khuynh hướng bị xem là sai lạc, không hoàn hảo và ngổn ngang những yếu tố không phù hợp về ngữ pháp. Nhà nghiên cứu folklore Richard Bauman thừa nhận diễn xướng cung cấp thông tin nhưng chú trọng hơn vào phương thức sử dụng ngôn ngữ ñể truyền tải thông tin ấy. Và cho dù, hệ quả là không cần những văn bản trau chuốt ñộc lập thì khi ñó, khán giả sẽ thể hiện sự vui thích ñối với diễn xướng tùy theo kỹ năng của người kể.
Với khán giả, nhiều khi việc một câu chuyện kể ra sao quan trọng hơn việc nó ñề cập ñến cái gì. Như vậy, kể chuyện bao hàm cả việc thể hiện trình ñộ ở cách kể câu chuyện, và diễn giả phải chịu trách nhiệm về năng lực truyền ñạt. Cho nên, dù diễn xướng không ñược trau chuốt, hay ngổn ngang những yếu tố không hợp về ngữ pháp, thì tất cả cũng là nét riêng của diễn xướng, và biết ñâu lại là chủ ñích của diễn giả, mang ñến những hiệu quả thẩm mỹ không ngờ mà một văn bản trau chuốt khó mang lại ñược. Cũng nghiên cứu về ngôn ngữ, nhưng các nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác lại rất chú ý ñến diễn xướng, tiêu biểu là nhà nghiên cứu Dell Hymes – một nhà nhân chủng học Hoa Kỳ.
Ông lập luận rằng ngôn ngữ học cấu thành có tính chất xã hội ñòi hỏi phải có một quan niệm khác về năng lực và sự diễn xướng. Theo ñó, chức năng xã hội sẽ ñịnh hình cho dạng thức ngôn ngữ học, ngôn ngữ sẽ có cả ý nghĩa xã hội lẫn ý nghĩa dẫn chiếu, và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) chức năng thông tin của ngôn ngữ trong việc cấu thành cuộc sống xã hội về thực chất là cơ bản. Diễn xướng bình ñẳng với ngữ pháp, ñóng vai trò thực hiện hành ñộng thông tin, cung cấp những tri thức và khả năng giúp người ta nói theo những cách có thể lý giải ñược và phù hợp về mặt xã hội. Như vậy, cùng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ nhưng ñã có hai hướng thái ñộ với diễn xướng.
Bản thân diễn xướng ñã có sự tham gia của một hình thức chuyển ñổi về mặt ký hiệu học, môt sự thay ñổi từ chỗ mã hóa một thông ñiệp trong một hệ ký hiệu này sang một hệ ký hiệu khác, và tùy từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau ñể tiến hành nghiên cứu diễn xướng ở từng góc ñộ. Ví dụ những người hoạt ñộng trong nhà hát thì quan tâm ñến mối quan hệ giữa kịch bản và sự biểu diễn (là quá trình ñi từ cái thứ nhất ñến cái thứ hai); trong khi các nhà văn học dân gian lại ñối chiếu cách nhìn chú trọng vào văn bản với cách nhìn chú trọng vào sự diễn xướng (vốn quan tâm ñến việc ứng dụng trên thực tế các dạng thức văn học dân gian). Bản chất và mức ñộ của ñịa hat diễn xướng với văn học dân gian cũng khác nhau. Một trong những câu hỏi cơ bản ñặt ra là phạm vi hoạt ñộng lời nói nào ñược xem là thích hợp cho sự diễn xướng và phạm vi nào thường ñược diễn xướng.3 Diễn xướng là sự thông tin về thông tin ðó là một phương thức hành ñộng mang tính thông tin, là cái tạo nên một cơ cấu lý giải giúp khán giả hiểu ñược hành ñộng thông tin.
Theo nghĩa này, hành ñộng thông tin ñược ñưa ra trình diễn, thể hiện cụ thể và nâng lên một cấp ñộ so với những cái cụ thể xảy ra trong bối cảnh, và mở ra cho khán giả dò xét, thẩm bình kỹ lưỡng. Nhờ ñó, diễn xướng thu hút sự chú ý ñặc biệt tới hành ñộng thông tin, nâng cao ý thức ñối với diễn xướng và tạo ñiều kiện cho khán giả quan sát nó cùng với diễn giả. Diễn xướng trao cho khán giả (cử tọa) trách nhiệm ñánh giá kỹ năng người diễn xướng. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Diễn xướng cung cấp thông tin về cách thực hiện kết cấu diễn xướng.
Erving Goffman, nhà nghiên cứu người Canada gọi ñó là “khóa” của diễn xướng; Gregory Bateson gọi ñó là hiện tượng “siêu thông tin”. Mỗi hành ñộng thông tin ñều bao hàm hàng loạt thông ñiệp tạo kết cấu, ẩn cũng như tường, chuyển tải những chỉ dẫn về việc hiểu ra sao với các thông ñiệp ñược gửi gắm, chuyển tải. Như vậy, mỗi cộng ñồng với vốn văn hóa và truyền thống sẽ có những tập hợp cấu trúc phương tiện thông tin riêng ñể khóa kết cấu diễn xướng sao cho sự truyền thông tin trong khuôn khổ kết cấu ñó sẽ ñược cộng ñồng ñó hiểu là sự diễn xướng. Cũng xem diễn xướng như sự kết cấu, nhưng cách nhìn của nhà triết học ngôn ngữ phổ thông Anh, J.Austin không ñi theo hướng trên.
Với ông, trong diễn xướng có tính nghệ thuật có một cái gì ñó diễn ra trong sự trao ñổi có tính thông tin, mách bảo với diễn giả hãy diễn giải cái mà diễn xướng nói theo một nghĩa ñặc biệt nào ñó, và ñừng làm nó có nghĩa chỉ như ñúng nghĩa các từ truyền tải. Như vậy, sự diễn xướng tạo nên một kết cấu diễn giải mà trong ñó các thông ñiệp trao ñổi cần ñược hiểu rằng kết cấu này tương phản với ít nhất một kết cấu khác vốn là kết cấu theo nghĩa ñen của từ. Austin liệt kê ra một số kết cấu mà diễn xướng có thể biểu ñạt: Kết cấu nói bóng gió: trong ñó những từ nói ra cần ñược diễn giải như thể có một cái vỏ bọc và quan hệ gián tiếp với ý nghĩa của lời nói; Kết cấu bông ñùa: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể chúng không nghiêm túc có nghĩa như cái mà chúng ñáng ra phải có; Kết cấu bắt chước: trong lối nói cần ñược hiểu là sự nhại lại một hoặc nhiều người khác; Kết cấu trích dẫn: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể các từ của ai ñó khác với diễn giải; 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Diễn xướng văn học dân gian Vũ Thanh Thủy (Nghiên cứu trường hợp hát Dô, Quốc Oai, Hà Nội) Kết cấu phiên dịch: trong ñó các từ nói ra cần ñược diễn giải như thể tương ñương với những từ vốn ñược nói ra bằng ngôn ngữ hoặc ám mã khác.4 Richarch Bauman với “verbal art as performance” – nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng Nhà nghiên cứu folklore học người Hoa Kỳ, Richard Bauman, nhận ñịnh hệ thống kêt cấu trên là “phiến diện và thiếu gia công xử lý” [theo 19; tr. Giáo sư người Hoa Kỳ này ñã phát triển diễn xướng ở một nghĩa rộng hơn.
ðó là sợi chỉ thống nhất, xâu chuỗi các thể loại có tính mỹ học tách biệt, có ñặc ñiểm riêng và các phạm trù khác của hành vi lời nói. Nói cách khác, ñó là hệ thống thông tin phản ánh nhận thức thế giới quan của con người thông qua tư duy và năng lực sáng tạo. Với rất nhiều công trình nghiên cứu về diễn xướng, Richard Bauman ñã xây dựng một hệ thống lý thuyết về diễn xướng một cách ñầy ñủ và toàn diện. Trong ñó, số lượng các công trình ñược dịch ra chưa nhiều.
Giới học thuật biết nhiều nhất ñến văn bản Verbal art as performance (nghệ thuật lời nói như một hình thức diễn xướng) qua công trình của Giáo sư, Tiến sỹ Ngô ðức Thịnh, ñồng tác giả với Tiến sỹ Frank Proschan. Theo như nhan ñề bài viết, nghệ thuât lời nói chỉ là một trong nhiều hình thức của diễn xướng. Ở Việt Nam, chúng ta vẫn gọi nghệ thuật lời nói, hay chính là văn học truyền miệng, văn học dân gian. Như vậy, theo quan ñiểm của Richard Bauman, văn học dân gian tồn tại dưới dạng diễn xướng mà không phải dưới dạng những con chữ cứng ñơ trên trang giấy mà ta lưu giữ hiện nay.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả ñã có cái nhìn mang tính lịch sử và liên ngành khi viện dẫn và ñánh giá quan ñiểm của nhiều nhà nghiên cứu ở các chuyên ngành như nhân học, ngôn ngữ học và phê bình văn học. Ông quan tâm phát triển khái niệm về nghệ thuật lời nói “với tư cách một sự diễn xướng, dựa trên sự hiểu biết về diễn xướng như một phương thức nói”.