LỜI MỞ ĐẦU Dầu khí là một nguồn tài nguyên đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của các nƣớc trên thế giới. Nó là tác nhân gây nên những cuộc tranh giành quyền lực của các quốc gia. Trong lịch sử và thời điểm hiện tại, chúng ta đã thấy có nhiều cuộc chiến tranh vì dầu mỏ. Đó là do để duy trì động lực phát triển kinh tế của quốc gia mình, các quốc gia đang ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lƣợng dầu mỏ hơn cho đến khi nhân loại tìm ra đƣợc một loại nhiên liệu khác đủ sức thay thế hoàn toàn, mà con đƣờng đó thì vẫn còn xa.
Nằm trong sự ảnh hƣờng chung đó, trong bối cảnh nền kinh tế đất nƣớc chúng ta còn nghèo, việc khai thác tài nguyên và đặc biệt là dầu khí lại càng là động lực mạnh nhất để phát triển đất nƣớc, thì các đề tài nghiên cứu khoa học về dầu khí, phát hiện các qui luật để khai thác chúng là điều kiện sống còn. Bể Nam Côn Sơn có diện tích gần 100.000km 2, nằm trong khoảng giữa 6000’ đến 9045’ vĩ độ Bắc và 106000’ đến 109000’ kinh độ Đông. Bể Nam Côn Sơn đƣợc giới hạn về phía Tây là đới nâng Korat – Natuna. Ngăn cách với bể trũng Cửu Long là đới nâng Côn Sơn.
Phần cực Bắc giáp với đới trƣợt Tuy Hòa của bể trũng Phú Khánh. Còn phần phía Đông, ranh giới phân chia giữa bể trũng Nam Côn Sơn và Tƣ Chính – Vũng Mây – nhóm bể Trƣờng Sa thì chƣa đƣợc xác định rõ ràng do tài liệu còn thiếu. Khu vực nghiên cứu nằm ở vùng nƣớc sâu phía Đông Bắc của bể. Là một khu vực có sự thay đổi về địa hình đáy biển rất lớn từ nơi có độ sâu đáy biển nằm trong khoảng 100- 300 m ở phần phía Tây cho đến độ sâu trung bình 800 m, đôi chỗ 1500 m ở phần phía Đông.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sơ đồ địa hình khu vực nghiên cứu Khu vực Đông Bắc của bể Nam Côn Sơn đƣợc gọi là bể nƣớc sâu nằm trên sƣờn lục địa Đông Nam Việt Nam. Cùng với các bể và nhóm bể vùng nƣớc sâu khác nhƣ bể Tƣ Chính- Vũng Mây, bể Trƣờng Sa, bể Phú Khánh; bể Nam Côn Sơn có các trầm tích lục nguyên thành tạo ở môi trƣờng châu thổ, aluvi và biển nông nằm ở độ sâu tới 14 km, bề mặt đáy biển có độ sâu từ 200 - 2000m. Điều đó đã gây nên những ý kiến tranh luận khó đi đến thống nhất khi ít chú ý đến quan hệ giữa thành phần thạch học, tƣớng trầm tích và chuyển động kiến tạo.
Từ ý nghĩa đó, đề tài luận văn đƣợc lựa chọn với tiêu đề: “Nghiên cứu địa tầng phân tập và triển vọng dầu khí trầm tích cenozoic khu vực nước sâu đông bắc bể nam côn sơn” nhằm làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa trầm tích Cenozoic trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nƣớc biển và chuyển động kiến tạo. Đồng thời kết quả phân tích tƣớng và bề dày trầm tích, đặc biệt là phân tích địa tầng phân tập sẽ lý giải đƣợc tại sao bể Nam Côn Sơn đƣợc hình thành và phát triển trên thềm lục địa nƣớc nông mà bây giờ lại nằm ở vùng sƣờn lục địa nƣớc sâu. Về ý nghĩa khoa học, đây là một đề tài có giá trị khoa học rất cao và thiết thực bởi nó nêu đƣợc mối qui luật cộng sinh tƣớng, các đặc điểm địa tầng phân tập các tập trầm tích, các qui luật sinh chứa chắn của dầu khí, nhìn nhận ra đƣợc lịch sử phát triển địa chất dọc theo các thời kì từ lúc hình thành cho đến hiện tại. Vì ý nghĩa khoa học to lớn đó, ta cũng thấy đƣợc ý nghĩa về mặt thực tiễn của đề tài, đó là cho 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta thấy rõ nhất qui luật vận động và phát triển của dầu mỏ từ lúc hình thành, trải qua các quá trình địa chất phức tạp đã di chuyển và tập trung tại các bẫy dầu khí.
Nghiên cứu địa tầng phân tập là một hƣớng tiếp cận mới giải quyết mối quan hệ giữa đặc điểm trầm tích, tƣớng và cộng sinh tƣớng với sự thay đổi mực nƣớc biển chân tĩnh và chuyển động kiến tạo. Đó là cơ sở khoa học để xây dựng các tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm và thăm dò dầu khí. Đặc biệt giúp đánh giá hệ thống dầu khí một cách chính xác. Nội dung luận văn của tôi gồm những chƣơng chính sau: Chƣơng 1.
Lịch sử và phƣơng pháp nghiên cứu. Đặc điểm địa chất khu vực. Đặc điểm tƣớng đá- cổ địa lý Chƣơng 4. Đặc điểm địa tầng phân tập Chƣơng 5.
Triển vọng dầu khí 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I. LỊCH SỬ VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Giai đoạn trước năm 1975 Từ năm 1975 trở về trƣớc, công tác khảo sát khu vực và tìm kiếm dầu khí đƣợc nhiều công ty, nhà thầu triển khai trên toàn thềm lục địa phía Nam nói chung và toàn bể Nam Côn Sơn nói riêng.
Các dạng công tác này do các công ty thăm dò Mỹ và Anh thực hiện nhƣ Mandrell, Mobil Kaiyo, Pecten, Esso, Union Texas, Sun Marathon, Sunning Dale. Các nhà thầu đã thu nổ hàng nghìn km địa chấn 2D với mạng lƣới tuyến 4x4 km và 8x8km. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc cuối năm 1974 đầu năm 1975, công ty Pecten và Mobil đã tiến hành khoan 5 giếng ở các lô và trên các cấu tạo khác nhau (Mía – 1X, ĐH – 1X, Hồng – 1X, Dừa – 1X và Dừa – 2X), trong đó giếng Dừa – 1X đã phát hiện dầu. Kết thúc giai đoạn này đã có ba báo cáo đánh giá kết quả nghiên cứu chung cho các lô, trong đó quan trọng và đáng chú ý nhất là báo cáo của công ty Mandrell.
Trong báo cáo này đã đƣa ra hai bản đồ đẳng thời tầng phản xạ nông và tầng phản xạ móng, các bản đồ dị thƣờng từ và trọng lực tỷ lệ 1/500.000 cho toàn thềm lục địa Việt Nam. Tuy vậy, ở giai đoạn này chƣa có một báo cáo tổng hợp nào dù là sơ bộ về đặc điểm cấu trúc, lịch sử phát triển địa chất cho toàn vùng nói chung cũng nhƣ các lô nói riêng. Các số liệu minh giải và các ranh giới tầng phản xạ chuẩn đƣợc lựa chọn theo nhiều quan điểm khác nhau trên từng lô, vì vậy gây khó khăn cho công tác tổng hợp toàn bể. Giai đoạn 1976-1980 Sau khi giải phóng miền Nam nƣớc nhà thống nhất, Tổng cục Dầu khí đã quyết định thành lập Công ty Dầu khí Nam Việt Nam (11-1975), công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đƣợc đẩy mạnh.
Các công ty AGIP và BOW VALLEY đã hợp đồng khảo sát tỉ mỉ (14.859km địa chấn 2D mạng lƣới đến 2x2km) và khoan thêm 8 giếng khoan (04A-1X, 04B-1X, 12A-1X, 12B-1X, 12C-1X, 28A-1X và 29A-1X). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở công tác khảo sát địa chất, địa vật lý và khoan, các công ty nêu trên đã thành lập một số sơ đồ đẳng thời theo các tầng phản xạ ở các tỷ lệ khác nhau và đã có báo cáo tổng kết. Công ty GECO đã thể hiện quan điểm của mình trong báo cáo “Minh giải địa chấn và đánh giá tiềm năng dầu khí thềm lục địa Việt Nam” của Daniel S. Công ty AGIP đã nêu lên một số quan điểm về cấu trúc địa chất và đánh giá khả năng dầu khí trên các lô 01 và 12.
Công ty Dầu khí Nam Việt Nam (Công ty II) đã tiến hành phân tích nghiên cứu và tổng hợp tài liệu đã có, xây dựng đƣợc một số sơ đồ đẳng thời và bản đồ cấu tạo tỷ lệ 1/100.000 cho các lô và một số cấu tạo phục vụ sản xuất. Giai đoạn từ 1981-1987 Sự ra đời của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro (VSP) là kết quả của hiệp định về hữu nghị hợp tác tìm kiếm – thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam giữa Liên Xô (cũ) và Việt Nam vào năm 1981 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong công nghiệp dầu khí Việt Nam. Trong giai đoạn này đã có một số báo cáo tổng hợp địa chất - địa vật lý đƣợc hoàn thành nhƣ báo cáo: “Phân vùng kiến tạo các bồn trũng Cenozoic thềm lục địa Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Cán và nnk, năm 1985 và báo cáo: “Tổng hợp địa chất - địa vật lý, tính trữ lƣợng dự báo hydrocarbon và vạch phƣơng hƣớng công tác tìm kiếm dầu khí trong giai đoạn tiếp theo ở thềm lục địa Nam Việt Nam” của Hồ Đắc Hoài, Trần Lê Đông 1986 và luận án tiến sĩ khoa học địa chất khoáng vật của Nguyễn Giao: “Cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí của các bể trầm tích Đệ Tam vùng Biển Đông Việt Nam” năm 1987. Giai đoạn từ năm 1988 đến nay Sau khi Nhà nƣớc ban hành Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài, 20 nhà thầu đã ký các hợp đồng triển khai công tác tìm kiếm thăm dò ở bể Nam Côn Sơn.
Các nhà thầu đã tiến hành khảo sát 54.779km địa chấn 2D và 5.399km2 địa chấn 3D, đã khoan 62 giếng khoan thăm dò và khai thác. Mỏ Đại Hùng đã đƣợc đƣa vào khai tác từ năm 1994, mỏ khí Lan Tây vào năm 2002 và các mỏ khí Rồng Đôi – Rồng Đôi Tây, Hải Thạch cũng chuẩn bị đƣa vào khai thác. Trong công tác tổng hợp các nhà thầu cũng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã có báo cáo lô và báo cáo giếng khoan, song về cơ bản đây cũng chỉ là những báo cáo nhanh phục vụ sản xuất. Về phía Tổng cục Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) có một số báo cáo nghiên cứu tổng hợp chung cả bể.
Đó là báo cáo: “Chính xác hóa cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng và đề xuất phƣơng hƣớng tìm kiếm thăm dò dầu khí ở bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín và nnk., 1990, báo cáo: “Địa chất dầu khí và tiềm năng hydrocarbon bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín, Lê Văn Dung (Viện Dầu khí), D.Willimor và nnk.(Robertson) 1991, báo cáo: “Đánh giá tiềm năng dầu khí bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Trọng Tín và nnk. 1993, báo cáo: “Chính xác hóa cấu trúc địa chất và trữ lƣợng dầu khí phần phía Đông bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Trọng Tín và nnk, 1995, báo cáo: “Nghiên cứu đánh giá tiềm năng dầu khí phần phía Tây bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Trọng Tín và nnk, 1996, báo cáo: “Mô hình hóa bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Thị Dậu và nnk, 2000. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.