Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dân số và giáo dục. Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển về dân số và giáo dục huyện Hóc Môn. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dân số và giáo dục huyện Hóc Môn đến năm 2030. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC 1.
Cơ sở lý luận về dân số và giáo dục 1. Khái niệm về dân số và một số khái niệm liên quan tới dân số 1. Dân cư và dân số “Tập hợp những người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó. Lãnh thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ Trái Đất” ( Nguyễn Đình Cử, 2011 ).
Dân cư của một vùng lãnh thổ là khách thể nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội. Mỗi khoa học nghiên cứu một mặt, một khía cạnh nào đó của khách thể này, tức là đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Dân số là vấn đề được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu, vì nó có liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống KT-XH. Vì vậy, dân số theo nghĩa thông thường là số lượng dân số trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định.
Theo nghĩa rộng thì dân số là một tập hợp người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển KT-XH, thường được đo bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số. Như vậy, tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng. Nó không cố định mà thường xuyên biến động. Dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô, cơ cấu và những nhân tố gây nên sự biến động của chúng như mức sinh, tử, nhập cư, xuất cư … Vì vậy, dân số thường được nghiên cứu ở cả trạng thái tĩnh và trạng thái động.
Nội hàm của khái niệm dân cư không chỉ bao hàm số người cơ cấu theo độ tuổi, giới tính mà nó còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ… tức là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm dân số (Nguyễn Đình Cử, 2011). Quy mô dân số và gia tăng dân số * Quy mô dân số Quy mô dân số là tổng số người dân sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, tại một thời điểm nhất định (Nguyễn Minh Tuệ, 1996). 10 Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên. Vào những thời điểm nhất định, thường là giữa năm hay cuối năm, người ta tính được số người cư trú trong những vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia, các khu vực và toàn thế giới.
Đây là chỉ tiêu định lượng quan trọng trong nghiên cứu dân số. Những thông tin về quy mô dân số có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong phân tích, so sánh với các chỉ tiêu KT – XH (Nguyễn Thị Hiển, 2016). Nếu quy mô dân số đông, trẻ sẽ tạo ra nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động là bộ phận năng động nhất của dân cư tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là cơ sở để nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư. Ngược lại, nếu dân số đông sẽ gây khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về vật chất cũng như tinh thần xã hội.
Vốn đầu tư cho sản xuất ngày càng thấp từ đó gây áp lực đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư. * Gia tăng dân số Đây là thước đo phản ánh đầy đủ và trung thực tình hình biến động dân số của một quốc gia, một vùng. Nó được thể hiện bằng tổng số giữa tỷ suất gia tăng tự nhiên và tỷ suất gia tăng cơ học. - Gia tăng tự nhiên Dân số của một lãnh thổ trong thời kì tăng hay giảm, trước hết là kết quả của mối tương quan giữa số sinh và số chết.
Sự biến động này gọi là gia tăng dân số tự nhiên. Tỷ suất gia tăng tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến tình hình biến động dân số và được coi là động lực phát triển dân số. Tỷ suất gia tăng tự nhiên (Rate of Natural Increase): Là hiệu số giữa tỷ suất sinh thô và tỷ suất tử thô trong một thời gian xác định, trên một đơn vị lãnh thổ nhất định. Đơn vị tính là phần trăm (%) (Nguyễn Minh Tuệ, 1996).
Tỷ suất gia tăng tự nhiên còn có thể xác định bằng hiệu số giữa số sinh và số chết trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần trăm (%) - Gia tăng cơ học Sự biến động dân số còn do tác động của gia tăng cơ học gắn với sự thay đổi dân số theo không gian lãnh thổ. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, gia tăng cơ 11 học (di dân) là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm tạo nên một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định. Những nguyên nhân chính gây nên các luồng di chuyển của dân cư là do “lực hút – lực đẩy” tại vùng nhập cư và xuất cư cùng với các nguyên nhân khác.
Các yếu tố tạo nên lực hút là đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, môi trường xã hội tốt còn ngược lại những nơi thiếu đất, thiếu việc làm, thu nhập thấp, khí hậu khắc nghiệt, thiếu cơ sở dịch vụ (y tế, văn hóa, giao thông…) là yếu tố tạo nên lực đẩy. + Tỷ suất xuất cư: tương quan giữa số người xuất cư khỏi 1 vùng lãnh thổ trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm. + Tỷ suất nhập cư: tương quan giữa số người nhập cư đến một vùng lãnh thổ trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm. + Tỷ suất di cư thuần: Được xác định bằng hiệu số giữa tỷ suất nhập cư và tỷ suất xuất cư.
Đơn vị tính là ‰ hoặc % (Niên giám thống kê, 2005, 2010, 2016). Di dân có thể làm tăng hoặc giảm số dân của đơn vị hành chính một cách nhanh chóng. Di dân còn làm thay đổi cơ cấu dân số tùy thuộc vào đặc trưng của từng dòng di cư. Địa bàn nhập cư có thể tăng tỷ lệ người trong độ tuổi sinh đẻ và độ tuổi lao động.
Di dân có ảnh hưởng lớn đến kinh tế –xã hội – môi trường cả theo chiều hướng tích cực và tiêu cực (Nguyễn Thị Hiển, 2016). Cơ cấu dân số * Cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính Cơ cấu dân số theo tuổi : “Là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những độ tuổi hoặc nhóm tuổi nhất định”. Cơ cấu dân số theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia. Người ta chia dân số thành 3 nhóm tuổi liên quan đến việc sử dụng lao động: dưới tuổi lao động (0 – 14 tuổi), trong độ tuổi lao động (15 – 59 tuổi, hoặc đến 64 tuổi) và trên tuổi lao động (trên 60 tuổi hoặc trên 65 tuổi).
Tiêu chuẩn xác định cơ cấu dân số trẻ, dân số già Đơn vị:% Nhóm tuổi Dân số trẻ Dân số già 0-14 >35 <25 15-59 55 60 Trên 60 <10 >15 “Nguồn: Địa lý kinh tế - xã hội đại cương, Nguyễn Minh Tuệ, 2007” Các nước đang phát triển có cơ cấu dân số trẻ và các nước phát triển có cơ cấu dân số già. Thông qua tương quan của dân số ở các nhóm tuổi, người ta có thể đánh giá, so sánh các nhóm trong mối quan hệ qua lại với các đặc trưng KT - XH của dân cư. Trong dân số học, cơ cấu dân số theo độ tuổi được chú ý nhiều bởi vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, tử, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một lãnh thổ. + Tỷ số phụ thuộc Dân số phụ thuộc là dân số thuộc độ tuổi nhất định nào đó.
Thông thường dân số phụ thuộc là dân số dưới 15 tuổi (dân số trẻ) và dân số từ 65 tuổi trở lên (dân số già). Chủ yếu là lứa tuổi đang đi học, đang làm công việc nội trợ hoặc không có khả năng lao động và những người không có nhu cầu làm việc. Tỷ số phụ thuộc chung biểu thị phần trăm số người dưới 15 tuổi (0 – 14) và từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15 – 64. Tỷ số phụ thuộc trẻ biểu thị phần trăm số người dưới 15 tuổi (0 – 14) trên 100 người ở nhóm tuổi 15 – 64.
Tỷ số phụ thuộc già biểu thị phần trăm số người trên 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15 – 64. Tỷ số phụ thuộc chung biểu thị bằng số người dưới 15 tuổi (0 – 14) và từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15 – 64. Qua tỷ lệ phụ thuộc này, người ta có thể xác định được cơ cấu dân số một quốc gia đã bước vào giai đoạn có “cơ cấu dân số vàng” hay chưa. + Dư lợi dân số hay còn gọi là “Cơ cấu dân số vàng”: là giai đoạn mà số người trong độ tuổi lao động (15 – 64) đạt tối đa và tỷ lệ người phụ thuộc (0 – 14 và trên 65) đạt ở mức thấp nhất.
Trong giai đoạn này, đất nước sẽ có một lực lượng lao động trẻ hùng hậu. Nếu lực lượng này được tận dụng tối đa trí tuệ, sức lao động sẽ 13 tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ, tạo ra giá trị tích lũy lớn cho tương lai, đảm bảo “an sinh xã hội” khi đất nước bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số già”. (Nguyễn Đình Cử, 2007) Cơ cấu theo giới tính : Số lượng nam, nữ tương quan giữa giới này so với giới kia hoặc so với tổng số dân được gọi là cơ cấu theo giới. Nếu so sánh tương quan giữa số nam (hoặc nữ) so với tổng số dân thì gọi là tỷ lệ giới tính, nếu so sánh tương quan giữa số nam/100 nữ thì gọi là tỷ số giới tính.
Việc nghiên cứu cơ cấu dân số theo giới tính có ý nghĩa sâu sắc về KT– XH, sức khỏe sinh sản và được chú ý trong việc phân công lao động xã hội cũng như áp dụng chính sách KT – XH của một quốc gia.