Chương 1 trình bày kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, bài tạp chí, các văn bản chính sách pháp luật liên quan đến đề tài luận án. Nội dung tổng quan xoay quanh các chủ đề nghiên cứu về đặc trưng và lý luận về tổ chức phi lợi nhuận, các phát hiện nghiên cứu về vai trò của các tổ chức này trong phát triển cộng đồng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của tổ chức phi lợi nhuận. Kết quả tổng quan nhằm mục đích xác định được khoảng trống trong nghiên cứu vai trò của các tổ chức phi lợi nhuận trong phát triển cộng động ở nông thôn.1 Các nghiên cứu về đặc trưng của các tổ chức phi lợi nhuận Tổ chức phi lợi nhuận (nonprofit organizations - NPOs) gồm các chủ thể không thuộc nhà nước, không phải do nhà nước thành lập, hoạt động tự nguyện, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm, theo phương thức phi lợi nhuận. Các tổ chức này có điều lệ, quy chế hoạt động riêng, tập hợp thu nạp hội viên là những người cùng mục đích, sở thích, sứ mệnh.835] đã đưa ra đinh nghĩa làm rõ bản chất khá rõ ràng về “tổ chức phi lợi nhuận”.
Theo đó, “tổ chức phi lợi nhuận là các tổ chức không phân bổ thu nhập ròng của mình (nếu có) cho các cá nhân có quyền kiểm soát (như các thành viên, quan chức, giám đốc, hay nhà tài trợ). Khái niệm “thu nhập ròng” ở đây được hiểu là lợi nhuận thuần túy của tổ chức phí lợi nhuận sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý cho công lao động, thuê mướn dịch vụ hay các chi phí cần thiết khác. 17 Cần lưu ý rằng tổ chức phi lợi nhuận hoàn toàn có thể tạo ra lợi nhuận và hoạt động có lợi nhuận, điều quan trọng là toàn bộ lợi nhuận được sử dụng cho hoạt động tiếp theo của tổ chức chứ không chia cho các thành viên, các nhà tài trợ, cổ đông, nhà lãnh đạo hay người có quyền kiểm soát tổ chức. Thu nhập và lợi nhuận của các tổ chức này được sử dụng để phát triển cộng đồng và hỗ trợ người dân.
Một số quốc gia, trong đó có Mỹ, dành những ưu đãi đặc biệt về thuế cho các tổ chức phi lợi nhuận để khuyến khích các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo [31, tr.838]) gọi đặc trưng này là “hạn chế lợi nhuận không được phân phối”. Đây cũng là cơ sở để Liên Hợp Quốc (2003) đưa hoạt động phi lợi nhuận vào hệ thống tài khoản quốc gia để hạch toán. Ngoài đặc điểm “phi lợi nhuận”, theo Salamon và Anheier (1994), tổ chức phi lợi nhuận còn có các đặc điểm sau: 1) Chính thức; 2) Phi chính phủ; 3) Tự quản và 4) Tự nguyện. Ngoài ra, các tổ chức phi lợi nhuận cần đảm bảo các đặc điểm và nguyên tắc như: 1) Độc lập với chính phủ, 2) Hoạt động mang tính liên tục, 3) Thành lập tự nguyện chứ không phải công ty thương mại hay quảng cáo, 4) Hoạt động vì lợi ích cộng đồng, 5) Lợi nhuận không đem chia cho thành viên và 6) Tự kiểm tra, giám sát.
Nghiên cứu lý luận về tổ chức phi lợi nhuận có lịch sử tương đối lâu dài, nhưng gần đây các nghiên cứu này có xu hướng gia tăng do mối quan tâm đặc biệt của các nhà hoạt động thực tiễn và người làm chính sách trong bối cảnh xã hội. Các nhân tố làm thay đổi phương thức sản xuất cũng như phương thức mà các chính phủ quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi sâu sắc. Các tổ chức phi lợi nhuận ngày càng có xu hướng hoạt động độc lập với chính phủ và doanh nghiệp, sứ mệnh chính là thúc đẩy lợi ích của người dân nói chung và phục vụ phát triển xã hội chứ không nhằm mục tiêu lợi nhuận hay vì lợi ích của một nhóm nào đó. Tính độc lập còn cho phép các tổ chức phi lợi nhuận giám sát các hoạt động của chính phủ và tuyên truyền vận động, thu 18 hút người dân với mục tiêu vì tiến bộ và công bằng xã hội.
Cho dù có thể có những đặc điểm khác nhau song điểm chung mà các tổ chức phi lợi nhuận hướng đến là làm cho cuộc sống của người dân tốt hơn và góp phần giải quyết vấn đề xã hội [12]. Ở nhiều quốc gia, tổ chức phi lợi nhuận còn bao gồm các “tổ chức tự nguyện”, các “tổ chức phi chính phủ”, hay các “tổ chức xã hội” với nhiều tên gọi khác nhau liên quan đến hoạt động nhân đạo, tôn giáo, hòa bình hoặc môi trường hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, từ thiện, độc lập và phi lợi nhuận [31, tr. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau song tựu chung các tổ chức này đều tham gia cung cấp các dịch vụ cần thiết cho xã hội trong khi khu vực tư nhân và khu vực nhà nước đều chưa đáp ứng được. Việc lựa chọn địa bàn hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận phụ thuộc vào chiến lược và ưu tiên của các tổ chức này.
Các tiêu chí được lựa chọn bao gồm năng lực đối tác, khả năng tiếp cận địa bàn cũng như tính đại diện về vùng miền, khu vực địa lý. Cùng với đó, các đối tượng trợ giúp nói chung của các tổ chức phi lợi nhuận là người nghèo, trẻ em, phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nạn nhân nhiễm chất độc da cam,… Một đặc trưng nổi bật nữa là các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động chủ yếu ở các địa bàn nông thôn rộng lớn ở các nước đang phát triển. Richard Bush (1992) phân biệt khá rõ giữa các tổ chức phi lợi nhuận với các tổ chức khác trong khu vực tư nhân. Các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động một cách tự nguyện với những quy định, lĩnh vực tương đối đặc thù, khác hẳn với cách tiếp cận của các tổ chức tư nhân, chủ yếu dựa trên yếu tố cạnh tranh vốn đầu tư và lợi nhuận.
Việc quản lý trong các tổ chức phi lợi nhuận dựa trên nguyên tắc phi lợi nhuận, lòng vị tha, nhân ái kết hợp với các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng [114]. Tại Canada, các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp xã hội được chính phủ khuyến khích thành lập và tạo điều kiện phát triển. Rất nhiều các tổ chức phi lợi nhuận ở quốc gia này 19 được chuyển đổi mô hình và phương thức hoạt động sang các doanh nghiệp xã hội hoặc các tổ chức phi lợi nhuận có thể thực hiện các mục tiêu, chiến lược xã hội theo hướng doanh nghiệp hóa. Điều này có nghĩa là hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận ở Canada sẽ tương tự như các hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp xã hội, tạo ra lợi nhuận nhưng chủ động sử dụng lợi nhuận thu được cho mục tiêu phát triển cộng đồng, phát triển xã hội.
Từ sau Thế chiến thứ II, các tổ chức phi lợi nhuận ngày càng có vai trò nổi lên như một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển xã hội [26]. Bên cạnh những nỗ lực của các chính phủ và các tổ chức quốc tế liên quốc gia, các tổ chức phi lợi nhuận đã đóng góp một phần vào việc cải thiện cuộc sống của người nghèo và những đối tượng thiệt thòi trong xã hội, nhằm giúp họ phát triển và thoát nghèo bền vững. Trong các thập kỷ 70-80 của thế kỷ 20, các tổ chức phi lợi nhuận đã hoạt động như một chủ thể chuyên nghiệp, có biên chế trả lương, có ở trụ sở chính và chi nhánh ở các quốc gia, khu vực. Các tổ chức này thuê các nhân viên quốc tế và người địa phương theo vị trí công việc và hợp đồng lao động.
Một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế có thể có đến hàng ngàn cán bộ, nhân viên làm việc, thâm chí có quy mô lớn hơn cả các tổ chức quốc tế và một số cơ quan Liên Hợp quốc. Tại Việt Nam, tổ chức phi lợi nhuận đã hình thành từ những năm 1990, dưới nhiều tên gọi khác nhau như quỹ, hiệp hội, tổ chức xã hội, hoạt động mang tính không vì lợi nhuận, và có tên gọi chính thức lầ tổ chức phi lợi nhuận từ năm 2013 [6]. Các tổ chức này hoạt động khá đa dạng, trong nhiều lĩnh vực, dưới nhiều hình thức, đã và đang góp phần không nhỏ tạo dựng sự ổn định và phát triển đất nước, thông qua thúc đẩy hoạt động trên một số lĩnh vực như: xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ thiết yếu tại cộng đồng, tham gia tích cực vào việc thực hành dân chủ từ cấp trung ương đến địa phương… Tuy nhiên, vị thế pháp lý và vai trò xã hội của tổ chức phi lợi nhuận tại Việt Nam chưa được đánh giá cao, dẫn tới sự đóng góp của các tổ chức này 20 với các chính sách phát triển, giám sát hoạt động của doanh nghiệp và chính quyền còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng ở cấp địa phương. Sự gia tăng của các tổ chức phi lợi nhuận trong một xã hội đang trên con đường hội nhập và hiện đại hóa như Việt Nam là rất đáng chú ý.
Tuy nhiên, con số thống kê về các tổ chức này chưa đầy đủ và cập nhật. Theo số liệu của cơ quan chức năng, vào năm 2010 cả nước có 258 tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ trong nước đăng ký ở cấp Trung ương, gần 2000 hội hoạt động ở các tỉnh, thành phố và hàng vạn các chi hội hoạt động ở huyện, xã, phường, cơ sở (trích Thời báo kinh tế Sài Gòn 23/7/2015). Năm 2016 đã có hơn 500 hội cấp Trung ương và cấp tỉnh hoạt động, 10.000 hội cấp huyện, xã; 1800 tổ chức phi chính phủ về khoa học ngoài công lập, bảo vệ môi trường, y tế, giáo dục; 150 hiệp hội ngành nghề; khoảng vài trăm loại hình quỹ các loại. Ba thành phố lớn của Việt Nam là thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng lần lượt có hơn 500 hội, gần 600 hội và 445 hội.
Những tổ chức này thường hình thành dưới tên gọi các Hội (Hội Khoa học kỹ thuật, Hội Nghề nghiệp, Hội Hữu nghị, Hội từ thiện nhân đạo, Hội theo giới, tuổi, sở thích, đồng môn); các loại Quỹ (xóa đói nghèo, hỗ trợ người tàn tật, tài năng trẻ). Riêng các Hội từ thiện, nhân đạo cũng đã có hàng trăm, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau và thuộc các tổ chức xã hội, tôn giáo.