MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI Bán đảo Đình Vũ thuộc quận Hải An thành phố Hải Phòng, với ƣu thế có nguồn quỹ đất dồi dào, nằm sát bời biển, tiếp giáp với cửa sông Bạch Đằng là cửa ngõ của thành phố về về giao thông đƣờng thủy, đƣờng không và đƣờng bộ. Hiện nay, bán đảo Đình Vũ đã và đang thu hút nhiều các dự án lớn có ý nghĩa chiến lƣợc và trọng điểm của thành phố Hải Phòng nói riêng và cả miền duyên hải Bắc bộ nói chung. Bên cạnh những thuận lợi trên, bán đảo Đình Vũ chịu tác động mạnh từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội nhƣ xây dựng các bãi container, giao thông, các cụm công nghiệp gây biến dạng nền đất yếu đặc biệt là sự cố lún các bãi container, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến cơ sở hạ tầng và thiệt hại lớn về kinh tế.
Việc xác định các nguyên nhân gây ra các sự cố lún công trình có ý nghĩa quan trọng góp phần đề xuất các giải pháp giảm thiểu biến dạng nền đất yếu và mang tính cấp thiết. Muốn vậy cần phải làm rõ bản chất nền đất yếu của trầm tích Holocen liên quan đến các sự cố lún công trình. Hiện nay, đã có nhiều các nghiên cứu về trầm tích Holocen cả trên đất liền ven biển và biển ven bờ khu vực Hải Phòng, kết quả đã phản ánh đƣợc những nét cơ bản về đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển trầm tích Holocen khu vực Hải phòng. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó còn mang tính chất khái quát cao, chƣa chi tiết cho từng khu vực cụ thể.
Do đó, những kết quả nghiên cứu này chƣa áp dụng đƣợc trong việc đánh giá điều kiện địa chất công trình phục vụ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cho các công trình cụ thể trên phạm vi hẹp. Từ thực tế trên, đề tài luận văn thạc sĩ “Nguyên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm trầm tích Holocen với khả năng lún các công trình xây dựng khu vực bán đảo Đình Vũ, Hải Phòng” đƣợc lựa chọn nhằm góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI - Làm sáng tỏ đặc điểm trầm tích Holocen khu vực bán đảo Đình Vũ, thành 1 z phố Hải Phòng. - Xác định nguyên nhân lún bãi container và mối quan hệ với các thành tạo trầm tích Holocen, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp phát triển cơ sở hạ tầng.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3. Đối tƣợng nghiên cứu: Các thành tạo trầm tích Holocen khu vực bán đảo Đình Vũ, thành phố Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đƣợc tập trung nghiên cứu ở khu vực bán đảo Đình Vũ nằm ở phía đông bắc thành phố Hải Phòng, bao gồm toàn bộ phần đất liền ven biển và phần biển ven bờ đến độ sâu nghiên cứu 10,0 m nƣớc. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu đặc điểm các thành tạo trầm tích Holocen khu vực bán đảo Đình Vũ, thành phố Hải Phòng.
- Nghiên cứu hiện trạng lún nền bãi container khu vực bán đảo Đình Vũ trong mối liên quan với các thành tạo đất yếu trầm tích Holocen. - Đề xuất các giải pháp phòng chống lún nền bãi container phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Ý nghĩa khoa học: Làm sáng tỏ đặc điểm trầm tích Holocen khu vực bán đảo Đình Vũ, thành phố Hải Phòng, xác định nguyên nhân gây ra các tai biến lún gây mất ổn định nền đất trong xây dựng công trình. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần trực tiếp vào việc xây dựng và dựng phát triển các bãi container khu vực bán đảo Đình Vũ, thành phố Hải Phòng nhằm phát triển bền vững cơ sở hạ tầng.
2 z Chƣơng 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Khu vực nghiên cứu bao gồm phần đất liền và biển ven bờ bán đảo Đình Vũ, đƣợc giới hạn bởi các điểm A, B, C, D (Hình 1.1) cụ thể: - Trên đất liền: Bao gồm toàn bộ bán đảo Đình Vũ - Biển ven bờ: Bao gồm phần biển tiếp giáp với bản đảo Đình Vũ và đƣợc nghiên cứu đến độ sâu 10,0 m nƣớc.1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu - Tọa độ các điểm: Điểm A: Từ 106o45’7. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO 1.1 Đặc điểm địa hình Địa hình thành phố Hải Phòng có tính phân bậc rất rõ nét và có xu hƣớng thấp dần về phía nam, gồm kiểu địa hình karst, địa hình đồi núi thấp, địa hình đồi núi sót, địa hình đồng bằng. Trong khu vực nghiên cứu [6, 29], gồm 01 kiểu địa hình đồng bằng: Trong khu vực nghiên cứu chiếm 10,0 ÷ 15,0 km 2.
Địa hình khá bằng phẳng có độ cao nhỏ 2,0 ÷ 3,0 m, thấp dần về phía nam và đƣợc bao quanh bởi hệ thống sông Cấm và sông Thái Bình. Cấu tạo nên các đồng bằng là các phù sa của hệ thống các sông Thái Bình và một phần thuộc hệ thống sông Hồng bao gồm chủ yếu là các đất đá hạt mịn sét, sét bột, sét cát.2 Đặc điểm địa mạo Đặc điểm địa mạo khu vực Hải Phòng tƣơng đối phức tạp, phát triển ở rìa nam của phức nếp lồi Quảng Ninh và phía đông của miền võng Hà Nội, trong khu vực nghiên cứu có thể phân ra thành 2 đơn vị [6, 29] nhƣ sau: a. Kiến trúc hình thái âm trùng với đới sụt hạ trong kiến tạo hiện đại: Đới này đƣợc phân định khá rõ ở vùng cửa sông Bạch Đằng, phía đông bắc bán đảo Đồ Sơn. Bề dày trầm tích Đệ Tứ đạt từ 60,0 ÷ 70,0 m đến 100,0 m.
Bề mặt địa hình cao phổ biến 0,5 ÷ 1,0 m, hệ lạch triều phát triển dày đặc. Ở trung tâm vùng cửa sông Bạch Đằng, biên độ võng tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại đạt trên dƣới 100,0 m. Bề dày trầm tích Holocen 11,0 ÷ 13,5 m, cực đại 17,0 m. Bề mặt địa hình cao phổ biến 0,3 ÷ 0,5 m, bãi triều thấp mở rộng và hệ lạch triều phát triển dày đặc.
Các kiến trúc hình thái lục địa ven bờ: Hầu hết đƣợc hình thành hoặc đƣợc tái tạo bởi các chuyển động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại. Trên bản đồ địa mạo - tân kiến tạo 1/50.000 khu vực Hải Phòng, các yếu tố kiến trúc hình thái đƣợc coi là những địa hình do các chuyển động kiến tạo tạo nên trong mối tác động tƣơng hỗ của chúng với các yếu tố bóc mòn, xâm thực và tích tụ. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU – KHÍ TƢỢNG 1. Khí hậu Khu vực Hải Phòng nói chung nằm trong vùng có mùa đông lạnh trên nền chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm: Gió mùa Đông Bắc hoạt động từ tháng 10 – 11 đến tháng 3 – 4 năm sau, gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 – 5 đến 4 z tháng 9 – 10.
Vào mùa hè, nằm trong vùng hoạt động của dải hột tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới và bão. Nếu so với toàn vùng biển Đông thì mùa đông lạnh và những vĩ độ nhiệt đới chính là tính đặc sắc của khu vực nghiên cứu. Nhiệt độ không khí Không tính đến những năm thời tiết bất thƣờng thì tháng 1 – 2 là các tháng lạnh nhất, thời kỳ chuyển tiếp là từ tháng 3 đến tháng 6 và tháng 7 – 8 là các tháng nóng nhất trong năm. Vì vậy, ở khu vực Hải Phòng thể hiện hai mùa rất rõ rệt là mùa hè và mùa đông, trong đó nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất vào khoảng 150C (tháng 2), trung bình cao nhất vào khoảng 300C (tháng 7).
Chế độ gió Hƣớng gió thịnh hành biến đổi theo mùa, thể hiện qua hoa gió tháng 1 và tháng 7, đặc trƣng cho hai mùa tƣơng ứng là mùa đông và mùa hè. Vào tháng 1, gió đông bắc chiếm ƣu thế với tần suất gần 70%. Vào tháng 7, gió nam chiếm ƣu thế với tần suất vào khoảng 60%. Chế độ mƣa bão Mƣa ở khu vực Hải Phòng có quan hệ mật thiết với khối không khí lạnh, bão và gió mùa.
Trong ba yếu tố trên thì không khí lạnh gây ra mƣa nhiều, bão gây ra mƣa to về mùa hè và gió mùa gây mƣa dầm dai dẳng. Lƣợng mƣa trung bình năm là 1077 mm, trong đó lƣợng mƣa trung bình năm của vùng ven bờ lớn hơn vùng ngoài khơi. Mƣa lớn vào tháng 8 (trung bình 281 mm ở vùng ngoài khơi và 352 mm ở vùng ven bờ) và ít mƣa vào tháng 1 (trung bình không quá 20 mm). Tổng lƣợng bốc hơi cân bằng 50 – 70% lƣợng mƣa.
Vào mùa hè thƣờng xuất hiện bão và áp thấp nhiệt đới (tháng 7, 8, 9). Trung bình có khoảng 4 – 5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới trong năm trên khu vực Hải Phòng. Tốc độ gió bão trung bình khoảng 25 đến 30 m/s, có khi đạt tới 50 m/s. Mƣa trong thời gian bão có thể đạt tới 443 mm/ngày.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT Đặc điểm địa tầng khu vực nghiên cứu đƣợc tổng hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu của tác giả Ngô Quang Toàn (1993) [29] và Nguyễn Đức Đại (1996) [6], các phân vị địa tầng từ dƣới lên trên nhƣ sau (Hình 1. Bản đồ địa chất khu vực ven biển thành phố Hải Phòng (Trích lƣợc từ Bản đồ địa chất Tờ Hải Phòng tỷ lệ 1:50. Mặt cắt tuyến IV, trích tờ bản đồ Hải Phòng tỷ lệ 1/50. - Phụ thống Pleistocen giữa – trên – Hệ tầng Hà Nội Trầm tích hệ tầng Hà Nội (a, am Q12-3 hn) gặp hầu hết trong khu vực nghiên cứu và không lộ trên mặt, ở những lỗ khoan sâu và đƣợc phân ra nhƣ sau: + Tập dưới, nguồn gốc sông (aQ12-3 hn1): Bao gồm cuội sỏi, cát hạt thô, tƣớng lòng sông độ chọn lọc kém, các trầm tích đƣợc tích tụ trong môi trƣờng axit yếu - trung tính (pH = 5,54), hệ số cation trao đổi thấp Kt= 0,06.
+ Tập trên, nguồn gốc sông - biển (amQ12-3 hn2): Trầm tích của phân hệ tầng này có bề dày nhỏ không quá 10,0 m, bao gồm bột sét lẫn cát hạt mịn, mùn thực vật thuộc tƣớng đồng bằng châu thổ. Cơ sở xác định tuổi của hệ tầng Hà Nội là ngoài các quan hệ trên dƣới của hệ tầng còn dựa vào các phức hệ bào tử phấn hoa tuổi Pleistocen giữa - muộn. Lớp 7 z trầm tích vụn thô của hệ tầng Hà Nội là tầng chứa nƣớc ngầm dày 5,0 ÷ 10,0 m, nƣớc có chất lƣợng tốt, nhƣng ở quận, huyện Hải An, An Lão, Kiến Thụy phía trên không có tầng cách nƣớc nên khi khai thác nƣớc dễ bị nhiễm mặn.