ĐẶT VẤN ĐỀ Ngay từ thời cổ xƣa trong quá trình săn bắt và hái lƣợm, con ngƣời đã biết lựa chọn thực vật để làm thuốc, tích lũy dần thành kinh nghiệm truyền thống truyền từ đời này sang đời khác và mãi mãi cho các thế hệ sau này. Trong đó, có nhiều bài thuốc không những chữa đƣợc những bệnh thƣờng gặp nhƣ cảm sốt, cảm lạnh, cầm máu…mà còn có thể chữa đƣợc cả những bệnh nặng nhƣ về gan, thận, huyết áp, tim mạch…Chính vì lẽ này mà nhu cầu về cây dƣợc liệu ngày nay tăng, gây sức ép rất lớn đến phân bố, trữ lƣợng, số lƣợng và chất lƣợng cây dƣợc liệu, nhiều loài cây quý hiếm bị suy giảm nhanh chóng, thậm trí có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Củ dòm (Stephania dielsianaC. Wu), họ Tiết dê (Menispermaceae) thuộc nhóm cây làm thuốc, có tác dụng dùng làm thuốc chữa đau đầu, sốt rét, phù thũng, đau lƣng, chân tay nhức mỏi, đau bụng, đau dạ dày, kiết lỵ, đại tiện ra máu…Trữ lƣợng và chất lƣợng loài cây này ngoài tự nhiên ngày càng hạn hẹp.
Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển loài này đang là mối quan tâm của rất nhiều ngƣời. Để bảo tồn và phát triển cây dƣợc liệu có nhiều biện pháp đã áp dụng, xong để phát triển, nhân trồng thành quy mô lớn bền vững thì việc sự tham gia của cộng đồng, nhất là đối với ngƣời dân sống quanh khu vực có loài cây này là rất quan trọng, Một trong những mô hình tổ chức tiêu biểu là Chi hội Đông Y của cộng đồng ngƣời Dao ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội với 65 thành viên là ngƣời dân tộc Dao đã tham gia trồng đƣợc trên 250 loài cây thuốc tại vƣờn nhà, trong đó có nhiều loài quý hiếm, Chi hội đã có quy chế hoạt động tốt, phát huy đƣợc kiến thức bản địa, tạo thu nhập cho các hội viên, nhiều hội viên kinh tế hộ ở mức khá và giàu nhờ nghề thuốc nam, đất đai đƣợc tận dụng triệt để cho trồng cây thuốc, nhận thức về tầm quan trọng và ý thức bảo tồn loài cây quý hiếm đƣợc nâng cao rõ rệt, nhiều loài thuốc quý đƣợc giữ gìn và phát triển để bảo vệ sức khỏe cho nhiều ngƣời. Xuất phát từ tính cấp thiết và mong muốn tìm hiểu về sự quan tâm của cộng đồng ngƣời Dao ở Ba Vì đối với việc bảo tồn và phát triển loài cây Củ dòm, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phát triển gây trồng loài Củ dòm (Stephania dielsianaC. Wu)ở vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội”.
8 Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về các công trình đã công bố vấn đề nghiên cứu 1. Lược sử nghiên cứu trên thế giới 1.Những nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng Trải qua nhiều thế kỷ, con ngƣời vẫn luôn coi trọng cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh. Theo WHO đến năm 1985, trên thế giới đã có khoảng 20.000 loài thực vật đƣợc dùng trực tiếp để làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc.
Trong đó, vùng nhiệt đới châu Á ƣớc tính có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa đƣợc dùng làm thuốc.000 loài, Trung Quốc 5. Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc ở dạng cổ truyền (cao, thuốc ngâm rƣợu, thuốc sắc,…); thì nhiều năm nay ngƣời ta đã chế đƣợc ra nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên. Cho đến nay chƣa có con số chính xác thống kê về tổng số lƣợng thực vật đƣợc sử dụng là bao nhiêu, chỉ đoán là rất lớn [16]. Theo thống kê trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh.
Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng đƣợc trong y học truyền thống [17]. Châu Mỹ La Tinh nơi có chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở ngƣời dân bản địa.Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc đƣợc sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia.Các quốc gia Châu Phi số loài cây thuốc ít hơn nhƣ Somalia có 200 loài, Botswana có 314 loài. Các tài liệu cổ xƣa nhất về sử dụng cây thuốc đã đƣợc ngƣời Ai Cập cổ đại ghi chép trong thời gian khoảng 3.600 năm trƣớc đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có cây Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu. Ngƣời Trung 9 Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo 365 vị và loài cây thuốc (khoảng 5.000 năm trƣớc đây).
Nền y học cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ đều ghi nhận lịch sử sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3. Vào đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, ngƣời ta đã biết dùng các lá của cây chè (Thea siamensis L.) đặc để rửa các vết thƣơng và tắm ghẻ. Thần Nông là ngƣời đầu sƣu tầm, ghi chép nên 365 vị thuốc Đông Y trong cuốn sách "Mục lục thuốc thảo mộc" từ hàng ngàn năm trƣớc đây. Từ thời cổ xƣa các chiến binh La Mã đã dùng cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa các vết thƣơng cho chóng lành sẹo mà ngày nay đã đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc chứng minh.
Kinh nghiệm của ngƣời cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ quả Óc chó (Juglans regia L.) dùng để chữa loét vết thƣơng lâu ngày. Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dƣợc liệu đã đƣợc công bố và đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and South east Asia" 1985. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thế Giới (IUNC) cho biết trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này có thông tin, hiện tại có khoảng 30.000 loài đƣợc coi là tuyệt chủng ở mức độ khác nhau. Nhiều quốc gia trên Thế giới đã có nhiều chính sách cụ thể để vừa bảo tồn, vừa khai thác hợp lý nguồn gen cây thuốc.
Đáng chú ý ở Nam Ninh (Trung Quốc) có vƣờn thuốc rộng 250 ha, đã thu thập và trồng đƣợc 2.500 loài cây thuốc, vƣờn phát triển cây thuốc ở Bắc Kinh rộng hơn 70ha đã trồng đƣợc hơn 1.000 loài cây thuốc [18]. Hiện đại hóa nền y học cổ truyền đƣợc nhiều Tổ chức; Chính phủ quan tâm nhằm tạo ra những dạng bào chế mới; thuốc mới đáp ứng nhu cầu làm thuốc dự phòng và chữa bệnh. Cho tới nay có hơn 30.000 hoạt chất đƣợc tách chiết từ nguồn thực vật, rất nhiều hoạt chất có giá trị cao. Nhu cầu về hoạt 10 chất có nguồn gốc thực vật ngày càng tăng, trong khi đó nguồn thực vật cung cấp có hạn, phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Năng suất, điều kiện khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, điều kiện thổ nhƣỡng,… Chính vì vậy, nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật đƣợc nhiều quốc gia quan tâm, đầu tƣ phát triển… Những sản phẩm của sinh khối tế bào thực vật đã đƣợc thƣơng mại hóa, có giá trị cao trong nhiều lĩnh vực: dƣợc phẩm (thuốc điều trị các bệnh đái đƣờng, bệnh tim mạch, bệnh gan mật, thuốc bổ dƣỡng,., các thực phẩm bổ dƣỡng, mỹ phẩm, chất phụ gia thực phẩm (chất màu, hƣơng liệu, gia vị, các chất dùng trong chế biến thực phẩm), các chất dùng trong nông nghiệp,… Các hoạt động mƣu cầu cuộc sống của con ngƣời ngày nay đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới.
Nhiều loài thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng. Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại bị đe dọa vào thế kỷ sau. Trong số những loài thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nhỏ của thực vật có khả năng làm thuốc, hoặc khả năng này con ngƣời chƣa phát hiện mà đã bị tuyệt chủng. Theo Tổ chức Ngân hàng Thế Giới (WB), tri thức truyền thống về y học ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh rất dễ bị đe dọa.
Tri thức này đang bị mất với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác. Trên thế giới có khoảng 1.000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Trong số đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroc, 61 loài ở Thái Lan và 35 loài ở Băngladet. Trƣớc tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm từ rất sớm.
Công ƣớc CITES (ngày 01 tháng 03 năm 1973) tại Washington với mục tiêu về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp. Đây chính là công cụ hỗ trợ các quốc gia ngăn chặn buôn bán quốc 11 tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhận thức về bảo tồn loài [19]. Tại Hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 - 27 tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai - Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đã đƣợc đặt ra. Công ƣớc đa dạng sinh học của hội nghị thƣợng đỉnh về môi trƣờng tại Rio de Janiero năm 1992 có các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng lợi ích thu đƣợc từ việc sử dụng nguồn gen.
Công ƣớc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn trong các điều kiện tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết các nhu cầu xác định và giám sát các thành phần đa dạng sinh học quan trọng. Công ƣớc là chìa khóa quan trọng để ngăn chặn sự tuyệt chủng của các loài động thực vật hoang dã nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng trong thế kỷ 21. Xu hƣớng trên thế giới hiện nay là vừa bảo tồn những cây, con thuốc quý hiếm, vừa có kế hoạch khai thác có hiệu quả những nguồn gen này để chăm sóc sức khỏe cộng đồng.