CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học 1. Cơ sở nghiên cứu ngoại hình Ngoại hình là hình dáng bên ngoài của vật nuôi, các đặc điểm về ngoại hình của gà là những đặc trưng cho giống, phản ánh tình trạng sức khỏe, kết cấu, chức năng cũng như thể hiện khuynh hướng, khả năng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
Mỗi giống đều có những đặc điểm ngoại hình đặc trưng cho giống đó. Ngoại hình gà bao gồm các đặc điểm về vóc dáng cơ thể, màu sắc lông, da, hình dạng và màu sắc của đầu, mào, chân. + Mào: Là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp giúp phân biệt trống, mái. Khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn chứa nhiều máu.
Thời gian thay lông hay gà mắc bệnh về tuyến sinh dục, chúng tạm thời tự ngừng cung cấp máu nên màu sắc mào giảm đi. Mào gà rất đa dạng cả về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Theo Phan Cự Nhân (1971)[38], khi có mặt gen Ab gà sẽ có mào dạng hoa hồng, gen aB có dạng mào nụ và gen ab có dạng mào cờ. + Mỏ: Mỏ gà có nguồn gốc vảy sừng, ngắn, cứng và chắc.
Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất thấp, những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, gà da đen thì mỏ cũng tối màu, gà mái đẻ màu sắc này cũng bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng. + Bộ lông: Lông là dẫn xuất của da thể hiện các đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Jonhansson (1972)[19] n 4 cho rằng, lông là một tính trạng của phẩm giống, sắc tố da, lông ở gia cầm được xác định bởi hai chất melanin và xantofin. Sắc tố melanin ở dạng hạt, có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi.
Sắc tố xantofin ở dạng tinh thể màu vàng, chỉ nằm ở da, mỏ và chân. Nếu lớp da ngoài có thêm xantofin thì da có màu xanh óng ánh. Sắc tố xantofin được tổng hợp từ thức ăn, trong khi thức ăn không đủ xantofin thì cũng làm tăng thêm màu sắc đen của da, lông. Thông thường màu sắc da, lông đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đó loang thì đó là đã bị lai tạp.
Vì vậy màu sắc da, lông còn là một chỉ tiêu chọn lọc. Màu sắc da, lông thuộc về tính trạng đơn gen, nên thường phân ly, đồng thời để dự đoán số lượng đời con có màu sắc mong muốn. Sự thay đổi về sắc lông: thứ nhất do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số lượng các tế bào cấu trúc và khả năng thu nhận ánh sáng của các tế bào này. Vì vậy màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc.
Ví dụ: những màu sắc xanh, đỏ thường thấy ở gà đen. Ở phần lớn các giống gà, gà trống và gà mái được phân biệt qua bộ lông. Tính trạng màu sắc và kiểu lông là tính trạng giới hạn bởi giới tính. + Chân: Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón.
Cổ, bàn và ngón chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Cơ sở nghiên cứu tập tính Tập tính (behaviour) là các hoạt động, phản ứng trả lời các kích thích ở các loài động vật hay tất cả các hành vi trong cuộc sống của chúng. Tập tính động vật phản ánh toàn bộ hoạt động sống của động vật.
Biểu hiện các mối quan hệ giữa động vật với môi trường, với tự nhiên, với các cá thể cùng loài và khác loài, vô cùng đa dạng, gắn bó hữu cơ với cả quá trình tiến hóa của động vật, với các biến đổi của môi trường. n 5 Theo các tác giả Phan Cự Nhân (1998)[39], Võ Quý (1997)[45], Đào Văn Tiến (2007)[54] thường phân chia tập tính thành các loại chính sau đây: - Tập tính bẩm sinh (inborn): Bản năng đó là các hoạt động có trước ý thức, dẫn tới các tính cách, các biểu hiện của động vật. Bản năng là chuỗi phản xạ nối tiếp theo một trình tự nhất định, được ghi trong genon. Trong cơ cấu di truyền của động vật.
Bản năng thay đổi, đặc trưng và có lợi cho loài, là kết quả của chọn lọc tự nhiên. - Tập tính tiếp thu (acquired): Là những tập tính được hình thành do bắt chước hoặc qua huấn luyện của con người. Tập tính tiếp thu chỉ xuất hiện ở những động vật đã bắt đầu có hệ thần kinh, hình thành qua biến đổi môi trường mới, không ghi trong genon, nên mềm dẻo, linh hoạt và luôn thay đổi theo hoàn cảnh, theo điều kiện sống mới. - Tập tính hỗn hợp (mixed): Là những tập tính mới được hình thành trong điều kiện sống thay đổi, trong đó có cả tập tính bẩm sinh và tập tính tiếp thu mà ranh giới rất khó phân biệt.
Các động vật sống trong cùng một cộng đồng, có cuộc sống chung trong cùng một quần thể nhóm, bầy, đàn. đều có các mối quan hệ với nhau, các tập tính hay tín hiệu trao đổi của chúng đều có tính xã hội và được gọi là tập tính xã hội. Tập tính xã hội biểu hiện rất đa dạng, phong phú bao gồm các tập tính chống lại kẻ thù để bảo vệ bầy đàn, cùng nhau tìm kiếm thức ăn, tập tính phân chia đẳng cấp, trật tự, tập tính phân chia lãnh thổ, cạnh tranh sinh tồn, bảo vệ nòi giống. Ngoài ra còn có những tập tính xã hội tinh tế hơn như: tập tính nuôi con, quan hệ mẹ con.
Tập tính là một biểu hiện rõ rệt đầu tiên của con vật đối với sự thay đổi các điều kiện sống và có thể làm chỉ tiêu chắc chắn để đánh giá quy trình công nghệ đã đề ra. Tập tính là một tính trạng được sử dụng trong n 6 chọn giống bởi chúng đảm bảo sự tồn tại của loài trước môi trường vẫn luôn biến động. Mặt khác chỉ tiêu cơ bản của ngành chăn nuôi là năng suất. Trạng thái đó biểu hiện ra bên ngoài bằng các đặc điểm tập tính.
Vì vậy nghiên cứu tập tính của các vật nuôi là rất cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý thuyết và thực tiễn. Nó giúp các nhà chăn nuôi chủ động trong việc chăm sóc, phòng trị bệnh cho vật nuôi. Tập tính động vật chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: tính di truyền và chọn lọc, nhiệt độ và mật độ, ánh sáng, ẩm độ, stress, động lực, sự cách ly và sự học tập, thời gian và các chu kỳ tự nhiên. Cơ sở nghiên cứu sức đề kháng Sức đề kháng là khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể.
Đặc tính này có thể là bẩm sinh hay tập nhiễm. Những cá thể có sức đề kháng cao đối với các bệnh khác nhau thường do sức chống đỡ của thể trạng so bẩm sinh được củng cố trong kiểu gen của chúng cũng như do tập nhiễm dưới tác động những ảnh hưởng khác nhau của môi trường; Đỗ Ngọc Liên (2008)[30]. Để xác định sức đề kháng đối với bệnh truyền nhiễm, người ta dựa vào 3 yếu tố cơ bản sau: + Nguồn truyền bệnh, tính gây bệnh và tính đặc trưng của bệnh. + Động vật ký chủ, tính cảm thụ và những phương thức bảo vệ của động vật ký chủ.
+ Môi trường xung quanh và sự tham gia của môi trường trong sự chống lại một đối một giữa cơ thể và tác nhân gây bệnh (Đỗ Ngọc Liên, 2008)[30], (Đào Lệ Hằng, 2001)[14]. Sức sống được thể hiện là thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính chất di truyền của động vật có thể chống lại được nhiều ảnh n 7 hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như những ảnh hưởng của dịch bệnh (Macro và cộng sự, dẫn theo Đào Lệ Hằng, 2001)[14]. Tuy nhiên có thể chọn lọc theo sức đề kháng với một số bệnh để tăng cường sức sống. Song cũng không thể chọn lọc theo sức đề kháng ở tất cả các bệnh vì điều kiện đó thường gắn liền với sự giảm nhanh của các tính trạng năng suất cá thể.
Tính trạng này có hệ số di truyền như sau: h2 = 0,06 (Hill, Dickerson và Kempster, 1954). Sức sống sau khi nở của các giống gà địa phương: h2 = 0,33 (Đặng Hữu Lanh,1999)[23]. Sức sống của gà được tính bằng tỷ lệ nuôi sống sau một thời gian. Tính trạng này có hệ số di truyền thấp (h2 = 0,1) nên sức sống của gà còn phụ thuộc chủ yếu vào môi trường (điều kiện ngoại cảnh) (Nguyễn Văn Thiện, 1995).
Nếu được chọn lọc kỹ, được ghép phối theo gia đình, kết hợp với dòng trống, mái, h2 về sinh lực có thể tăng khá nhanh gà Ri h2 = 0,63 (Bùi Đức Lũng, Trần Long, 1992)[26]. Sức đề kháng khác nhau ở các loài, giống, dòng, thậm chí giữa các cá thể giống nhau. Con trống có sức đề kháng mạnh hơn do có sự khác nhau của hoocmon. Nhiễm sắc thể giới tính quyết định khác nhau về sức đề kháng, có thể nhiễm sắc thể giới tính z (ở gà trống) mang gen đề kháng hoặc là nhiễm sắc thể w (gà mái) có gen cảm nhiễm Hutt (1969) (dẫn theo Vũ Thị Đức, 2010 [8].
Cơ sở khoa học nghiên cứu các đặc tính sinh lý sinh hoá máu Trong tổng lượng máu của cơ thể có tới 54% máu được lưu thông trong hệ thống tuần hoàn, 46% còn lại ở dạng dự trữ, trong đó ở gan 20%, lách 16%, mao mạch dưới da 10%. Hai loại máu này thường xuyên đổi chỗ cho nhau. Khi cơ thể bị mất máu đột ngột thì sẽ bị choáng váng, ngất do áp lực n 8 máu trong mao quản bị giảm đột ngột, đặc biệt giảm ở mao quản của não làm ức chế thần kinh. Khi lấy máu từ (máu tĩnh mạch) có thể lấy đến 2/3 tổng lượng máu mà con vật vẫn chưa chết, vì lượng máu dự trữ sẽ được huy động thành máu lưu thông.
Máu là tấm gương phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ của cơ thể, vì vậy xét nghiệm về máu là những xét nghiệm cơ bản được dùng để đánh giá tình trạng sức khoẻ, quá trình trao đổi chất, sức đề kháng cũng như giúp việc chẩn đoán bệnh. Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm: - Số lượng hồng cầu (triệu/ml). - Số lượng bạch cầu (nghìn/ml). Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng + Khái niệm: Sinh trưởng là sự tăng kích thước và khối lượng của sinh vật đang ở giai đoạn lớn lên.