Đặt vấn đề Ba ba là một trong những loài có giá trị kinh tế cao, thuộc đối tượng nguồn gen quý, hiếm.Thịt ba ba ngon và có giá trị dinh dưỡng cao thường được chế biến thành các món ăn đặc sản cao cấp. Trứng, mai và đầu ba ba là một vị thuốc đông y chữa một số bệnh (Nguyễn Hữu Đảng, 2004) [2]. Hiện nay, nhu cầu về ba ba thương phẩm là rất lớn trong điều kinh tế và nhu cầu thực phẩm chất lượng ngày càng cao.Tuy nhiên, nguồn ba ba tự nhiên đã giảm nhanh chóng và ngày càng khan hiếm do tình trạng khai thác bừa bãi, không có sự bảo vệ hay phục hồi. Việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật không kiểm soát đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống tự nhiên của ba ba, đến thức ăn tự nhiên hoặc đã trực tiếp hủy hoại chúng.
Trong những năm gần đây do việc thông thương biên giới Việt – Trung, con ba ba trở thành mặt hàng có giá trị cao và được tiêu thụ mạnh ở thị trường nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc. Nghề nuôi ba ba ở Việt Nam là nghề tương đối mới nhưng đã có những bước chuyển biến đáng kể, tạo ra thêm những ngành nghề mới cho cơ cấu nông nghiệp của nước ta, thúc đẩy kinh tế, không những xóa đói giản nghèo cho bà con nông dân mà còn đưa nhiều người từ nông dân lên làm tỉ phú, góp phần không nhỏ vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân (Bộ Thuỷ Sản, 1991- 1995) [1]. Vì thế, ba ba là đối tượng xóa đói giảm nghèo, giúp cho người nông dân vươn lên làm giàu từ loài thủy đặc sản này, góp phần lưu trữ nguồn gen quý, đưa nghề thủy đặc sản phát triển. Để hiểu thêm về đặc điểm thích nghi và khả năng sinh trưởng của ba ba nuôi tại Thái Nguyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: n 2 “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của ba ba trơn (Pelodiscus sinensis) tại Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao Khoa học Công nghệ nuôi trồng thủy sản vùng Đông Bắc, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích nghiên cứu - Nắm được kỹ thuật nuôi ba ba thương phẩm, gắn kết được lý thuyết đã học với thực tiễn sản xuất. - Đánh giá được tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của ba ba trơn trong điều kiện nuôi nhân tạo.2 Mục tiêu nghiên cứu - Rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm thực tiễn. - Xác định tốc độ sinh trưởng, tỉ lệ sống của ba ba trơn trong quá trình nuôi tại trung tâm. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Phát triển nuôi dưỡng đối tượng thủy đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao. Đề ra các chỉ tiêu thích hợp về môi trường, thức ăn để nuôi ba ba. Ý nghĩa thực tiễn Đưa được giống mới đến người nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế vùng nông thôn. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Cơ sở khoa học * Đặc điểm sinh học của ba ba. - Vị trí phân loại. Lớp bò sát: Reptilia Bộ rùa: Chelonia Họ ba ba: Trionycidae Loài: Ba ba trơn (Pelodiscus sinensis Wegmann 1835.
Tên phổ thông: Ba ba sông hay Ba ba hoa. Ba ba trơn hay còn gọi là ba ba hoa, cơ thể phủ da mềm màu xanh xám, có vòi thịt trước mõm. Yếm có các mảng màu đối xứng rõ, phần da ở giữ cổ và chi trước không có các nốt sần. Chi có phần bàn dẹp, có màng bơi nối các ngón, có 3 vuốt.
Ba ba trơn (Pelodiscus sinensis) n 4 *Phân bố. - Trên thế giới: các vùng nước ngọt ở Đông Nam Á, châu Đại Dương, châu Phi, Bắc Mỹ. - Ở Việt Nam: Loài phổ biến ở Việt Nam là Trionyx sinensis. + Ba ba hoa (ba ba trơn): các vùng nước ngọt thuộc đồng bằng sông Hồng.
+ Ba ba gai: sông, suối, đầm, hồ vùng núi phía Bắc. + Lẹp suối (ba ba suối): các suối nhỏ miền núi phía Bắc. + Cua đinh: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ. Cách phân biệt nhanh nhất là dựa vào màu da bụng và hoa vân trên bụng.
Da bụng ba ba trơn lúc nhỏ màu đỏ, khi lớn màu đỏ nhạt dần, khi đạt cỡ 2kg trở lên gần như màu trắng. Trên nền da bụng điểm khoảng trên dưới 10 chấm đen to và đậm, vị trí từng chấm tương đối cố định, các chấm đen này loang to nhưng nhạt dần khi ba ba lớn đần, khi đạt cỡ trên 2kg phải quan sát kỹ mới thấy rõ. Da bụng ba ba gai màu xám trắng, trên điểm rất nhiều chấm đen nhỏ, làm da bụng có màu xám đen lúc nhỏ và xám trắng lúc lớn. Ba ba suối da bụng màu vàng bóng, không có chấm đen.
Ba ba Nam bộ da bụng màu trắng, không có chấm đen. Ngoài da bụng, có thể căn cứ vào các nốt sần trên lưng, trên diềm cổ, và trên cổ của ba ba để phân biệt chúng. * Tập tính sinh sống của ba ba: Ba ba có một số tập tính sinh sống đặc biệt. Tuy là động vật sống hoang dã, nhưng rất dễ nuôi trong ao, bể nhỏ.
Sống dưới nước là chính, nhưng có thể sống trên cạn và có lúc rất cần sống trên cạn. Ba ba thở bằng phổi là chính nên thỉnh thoảng phải nhô lên mặt nước để hít thở không khí. Mùa đông lạnh, cường độ hô hấp nhỏ, ba ba có thể rút trong bùn ở đáy ao, dựa vào cơ quan hô hấp phụ trong cổ họng để thở, cơ n 5 quan hô hấp phụ tựa mang cá, ba ba lấy oxy trong nước và thải CO2 trong máu vào nước qua cơ quan này. Ba ba lên khỏi mặt nước khi có nhu cầu di chuyển, đẻ trứng, phơi lưng.
Vừa biết bơi, vừa biết bò, leo, biết vùi mình nằm trong bùn cát, đặc biệt có thể đào hang trú ẩn, đào khoét bờ ao chui sang ao bên cạnh. Ba ba nhút nhát lại vừa hung dữ. Ba ba thích sống nơi yên tĩnh, ít tiếng ồn, kín đáo. Khi thấy có tiếng động mạnh, có bóng người hay bóng súc vật đến gần, chúng lập tức nhảy xuống nước lẩn trốn.
Tính hung dữ của ba ba thể hiện ở chỗ hay cắn nhau rất đau, con lớn hay cắn và ăn tranh mồi của con bé, bị đói lâu có thể ăn thịt con bé. Khi có người hoặc động vật muốn bắt nó, nó có phản ứng tự vệ rất nhanh là vươn cổ dài ra cắn. * Đặc điểm dinh dưỡng. Ba ba thuộc loài ăn thức ăn động vật.
Trong tự nhiên thức ăn chính trong mấy ngày mới nở là động vật phù du (thủy trần), giun nước (trùng chỉ) và giun quế loại nhỏ. Khi lớn ba ba ăn cá, tép, cua, ốc, giun đất, trai, hến. Trong điều kiện nuôi dưỡng, cho ba ba ăn thêm thịt của nhiều loại động vật rẻ tiền khác, có thể cho ba ba biết ăn thức ăn chế biến (thức ăn công nghiệp) ngay từ giai đoạn còn nhỏ. Ba ba ăn khỏe vào mùa hè, lượng thức ăn bằng 5-10% trọng lượng thân.
Mùa đông tháng 12 - 3 lạnh, thức ăn chỉ bằng 3-5% trọng lượng thân (Theo Lê Đức Ngoan và cs (2008) [5]. * Đặc điểm sinh trưởng. - Ba ba là loài chậm lớn. - Sức lớn liên quan chặt chẽ với điều kiện môi trường: to, thời tiết, thức ăn… - Nhiệt độ xuống dưới 100C thì ba ba ăn giảm, sinh trưởng chậm - Trong cùng điều kiện nuôi thì ba ba cái mau lớn hơn ba ba đực.
Ba ba hoa cỡ 0,5kg mới bắt đầu đẻ trứng lần đầu, tuổi tương ứng là 2 năm, trứng ba ba thụ tinh trong. Ba ba sống dưới nước, nhưng đẻ trứng trên cạn. Đến mùa đẻ, thường là vào cuối thu đầu đông, ba ba ban đêm bò lên bờ sông, bờ ao, hồ tìm chỗ kín đáo, có đất cát ẩm và tơi xốp bới tổ đẻ trứng. đẻ xong chúng dùng 2 chân trước cào đất lắp kín trứng, dùng bụng xoa nhẵn mặt đất ổ trứng rồi xuống nước sinh sống, không biết ấp trứng.
Trứng nằm trong ổ, trải qua mưa nắng và các điều kiện không thuận lợi về dịch hại, sau 50-60 ngày nở thành ba ba con, điều kiện ấp tự nhiên này tỷ lệ nở rất thấp. Trong điều kiện nuôi, con người có thể tạo chỗ cho ba ba đẻ thuận lợi hơn và có nhiều phương pháp ấp trứng đảm bảo tỷ lệ nở cao trên dưới 90%. Trứng ba ba phần lớn hình tròn như hòn bi, màu trắng. Ba ba càng lớn đẻ trứng càng to và càng nhiều.
Ba ba trơn cỡ khoảng 500g đẻ 1 lứa từ 4 - 6 trứng, đường kính trứng từ 17 -19mm, trọng lượng 3 - 4g/quả. Ba ba trơn cỡ 1 - 1,5kg mỗi lứa đẻ từ 8 - 15 trứng, đường kính trứng 20 - 23mm, trọng lượng 4 - 7g ba ba cỡ 2 - 3kg có thể đẻ 20 - 30 trứng một lứa. Trứng ba ba gai lớn hơn trứng ba ba trơn. Nhịêt độ đẻ thích hợp 25 - 320C.
Sau khi đẻ 5 - 7 ngày ba ba bố mẹ tiếp tục thụ tinh. Ba ba có thể đẻ từ 2 - 5 lứa trong 1 năm, ba ba cái càng lớn, chế độ nuôi vỗ cho ăn càng tốt đẻ càng nhiều lứa, mỗi lứa cách nhau từ 25 - 30 ngày (Nguyễn Văn Kiểm và cs, 2004) [3]. Để phân biệt được giữa ba ba dực và cái căn cứ vào một số các sở cứ sau: n 7 Phân biệt ba ba đực và ba ba cái Ba ba đực Ba ba cái Kích cỡ nhỏ, mình mỏng hơn Kích cỡ lớn hơn con đực Mai tròn hơn Mai hình bầu dục Cổ, đuôi dài, nhỏ và nhô ra khỏi mai Cổ và đuôi ngắn, mập không lồi ra Yếm lõm Yếm ít lõm Vuốt chân dài Vuốt chân ngắn hơn Khoảng cách giữa hai chân sau nhỏ Khoảng cách giữa hai chân sau lớn hơn Hoạt động mạnh Hiền, nhút nhát * Khả năng thích ứng của ba ba. Nhiệt độ là yếu tố quyết định đến sự hoạt động, khả năng ăn mồi, tốc độ sinh trưởng và thời gian sinh sản của ba ba.
- Nhiệt độ thích hợp cho ba ba là từ mùa xuân đến mùa thu thời tiết nóng ấm. Ba ba cũng có tập tính trú đông như một sô sinh vật khác. - Mùa xuân hè ba ba ăn khoẻ và hoạt động mạnh, lớn nhanh. Chúng thường đuổi nhau, tranh nhau và cắn nhau dữ dội.
Tuy nhiên mùa hè ba ba lại dễ chết, bắt lên khỏi nước 3 ngày đã chết nên không vận chuyển đi xa trong nhiều ngày được. Vì vậy giá ba ba trong mùa hè thường hạ. - Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến thời gian thành thục sinh sản của ba ba.