Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái phong phú với 18 loài thú móng guốc chẵn, trong đó có 8 loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trên quy mô toàn cầu theo các tiêu chuẩn bảo tồn quốc tế. Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên, mất sinh cảnh sống và nạn săn bắt trái phép đã đặt các loài thú móng guốc trước áp lực sinh tồn nghiêm trọng. Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai giữ vai trò hạt nhân sinh thái tại vùng Đông Nam Bộ với tổng diện tích 100.904 ha đất lâm nghiệp cùng 32.400 ha mặt nước hồ Trị An. Đây là một trong những diện tích rừng mưa ẩm nhiệt đới cuối cùng còn sót lại ở miền Nam Việt Nam.

Mặc dù có giá trị sinh thái đặc biệt, nguồn dẫn liệu về hiện trạng quần thể và mối liên hệ giữa các loài thú móng guốc với từng kiểu sinh cảnh tại khu vực này vẫn còn phân tán và chưa đồng bộ. Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh cảnh và phân bố của các loài thú móng guốc chẵn trọng điểm, thực hiện điều tra thực địa từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017 tại 3 phân khu Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An.

Mục tiêu cụ thể của công trình gồm: ghi nhận hiện trạng thành phần loài, xác định kiểu sinh cảnh và đặc điểm phân bố không gian, phân tích các mối đe dọa nhân vi chính, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn khả thi. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về tần suất bắt gặp, chỉ số mật độ tương đối và cấu trúc thảm thực vật, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết ổ sinh thái kết hợp nguyên lý phân đoạn sinh cảnh trong sinh thái học quần xã động vật rừng nhiệt đới. Về mặt phân loại học, bộ thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) được phân chia thành 3 phân bộ chính gồm phân bộ Lợn (Suina), phân bộ Nhai lại (Ruminantia) và phân bộ Chân chai (Tylopoda). Trong phạm vi nghiên cứu, các họ động vật đại diện gồm họ Trâu bò (Bovidae), họ Hươu nai (Cervidae), họ Cheo cheo (Tragulidae) và họ Lợn (Suidae).

Khung lý thuyết phân tích cấu trúc lâm học tập trung vào sự phân tầng thẳng đứng của thảm thực vật rừng tự nhiên, bao gồm: tầng vượt tán và tầng tán chính (A1 cao từ 15 đến 25 mét), tầng dưới tán (A2 cao từ 8 đến 15 mét), tầng cây bụi (cao từ 2 đến 8 mét) và tầng thảm tươi mặt đất (cao dưới 1 mét). Các khái niệm chuyên ngành then chốt được lượng hóa gồm: độ tàn che của tán rừng (dao động từ 0,4 đến 0,7), chỉ số phong phú loài Margalef, tần suất xuất hiện cá thể và ngưỡng thích nghi sinh cảnh của từng nhóm loài móng guốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua phương pháp điều tra liên ngành kết hợp giữa phỏng vấn xã hội học và khảo sát thực địa chuyên sâu trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017:

  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn sâu với cỡ mẫu 50 người, bao gồm 30 cán bộ kiểm lâm thuộc 5 trạm kiểm lâm trọng điểm (Suối Ràng, Suối Kốp, Trung ương Cục Miền Nam, Cư Đinh, Suối Linh) và 20 người dân địa phương sinh sống lâu năm tại 3 xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm. Mẫu phỏng vấn được chọn có chủ đích nhằm kế thừa tri thức bản địa về sự xuất hiện và tập tính di chuyển của thú rừng.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập hệ thống tuyến khảo sát tạm thời đi qua toàn bộ các sinh cảnh đại diện với chiều dài từ 5 đến 10 km mỗi tuyến, duy trì cự ly tối thiểu giữa 2 tuyến là 1 km. Mỗi tuyến được điều tra lặp lại 3 lần trong các khung giờ: sáng (6 giờ 00 đến 10 giờ 30), chiều (14 giờ 00 đến 19 giờ 00) và ban đêm (19 giờ 00 đến 23 giờ 00) có trang bị đèn rọi chuyên dụng.
  • Phương pháp điều tra theo điểm: Khảo sát tại các điểm khoáng, bàu sình và bãi kiếm ăn cố định, thực hiện liên tục từ 4 đến 5 ngày cho mỗi điểm trong khung giờ từ 4 giờ 00 đến 9 giờ 00 sáng.
  • Phương pháp giám sát Cheo cheo theo ô mẫu: Do loài có kích thước cơ thể nhỏ (trọng lượng từ 1,5 đến 2,5 kg) và tập tính nhút nhát, tác giả thiết lập các ô mẫu lớn kích thước 50m x 50m (diện tích 2.500 m2), chia thành 25 ô nhỏ kích thước 10m x 10m để tìm kiếm vết chân, bãi phân và nguồn thức ăn tầng mặt đất.
  • Phương pháp điều tra cấu trúc sinh cảnh: Kế thừa dữ liệu kiểm kê rừng và tiến hành phúc tra 5 ô tiêu chuẩn kích thước 1.000 m2, kết hợp 4 ô dạng bản diện tích 25 m2 tại mỗi ô tiêu chuẩn để đánh giá cây tái sinh và thảm tươi.
  • Phương pháp điều tra tác động nhân vi: Trên các tuyến điều tra, cứ mỗi khoảng cách 200 mét tiến hành lập ô đánh giá nhanh phạm vi 400 m2 để ghi nhận dấu hiệu chặt phá cây, chăn thả gia súc và bẫy bắt thú.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu định lượng được tính toán bằng phần mềm thống kê Excel và hệ thống thông tin địa lý MapInfo phiên bản 10.5 để thành lập bản đồ sinh cảnh và bản đồ phân bố không gian. Việc kết hợp phân tích toán học và GIS giúp đảm bảo tính khách quan, phản ánh chính xác tương quan giữa cấu trúc rừng và mức độ phân bố của động vật mà không gây xáo trộn môi trường tự nhiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và khẳng định sự hiện diện của 5 loài thú móng guốc chẵn đại diện thuộc diện ưu tiên bảo tồn tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, bao gồm: Bò tót (Bos frontalis), Nai đen (Rusa unicolor), Hoẵng nam bộ (Muntiacus muntjak annamensis), Cheo cheo (Tragulus kanchil) và Lợn rừng (Sus scrofa).

Sự phân bố của các loài có sự phân hóa rõ rệt theo 5 dạng sinh cảnh chính:

  • Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (chiếm diện tích lớn nhất với 44.142 ha, tương đương 44% diện tích khu bảo tồn): Là sinh cảnh cư trú chủ đạo của cả 5 loài nghiên cứu. Tần suất bắt gặp trực tiếp và gián tiếp đối với Nai đen và Lợn rừng tại sinh cảnh này đạt mức cao nhất, trên 0,45 cá thể/km tuyến điều tra.
  • Rừng hỗn giao cây gỗ - tre nứa (chiếm diện tích 7.746 ha, tương đương 7,7%): Đây là sinh cảnh kiếm ăn ưa thích của Bò tót và Nai đen, đặc biệt tại khu vực phân khu Vĩnh An giáp ranh Vườn quốc gia Cát Tiên.
  • Rừng tre nứa thuần loại (diện tích 353 ha, chiếm 0,35%): Tần suất bắt gặp thú móng guốc giảm mạnh, chỉ ghi nhận dấu vết di chuyển tạm thời của Lợn rừng và Hoẵng.
  • Rừng trồng, trảng cỏ - cây bụi và nương rẫy (diện tích 9.047 ha, chiếm 9,0%): Đóng vai trò là bãi gặm cỏ mở rộng của thú móng guốc vào sáng sớm và chiều tối.
  • Đất ngập nước ven thủy vực (gồm 32.400 ha mặt nước hồ Trị An và hệ thống sông suối, bàu sình): Cung cấp nguồn nước uống và điểm khoáng thiết yếu quanh năm.

Dữ liệu điều tra qua các ô tiêu chuẩn 50m x 50m cho thấy loài Cheo cheo xuất hiện tập trung tại các vạt rừng có thảm tươi che phủ dày trên 70% với tầng cây bụi thấp dưới 25 cm. Toàn bộ kết quả phân bố không gian và tần suất xuất hiện có thể được trực quan hóa mạch lạc thông qua biểu đồ cột so sánh chỉ số cá thể/km giữa các tuyến và bảng ma trận thể hiện tương quan giữa 5 loài thú với 5 dạng sinh cảnh.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc tầng tán của trạng thái rừng phục hồi IIIA2 và IIIA1 là nhân tố sinh thái quyết định đến mật độ phân bố của thú móng guốc chẵn. Chiều cao tầng cây gỗ chính đạt từ 15 đến 25 mét cùng độ tàn che dao động 0,4 đến 0,6 tạo nên môi trường râm mát, giúp che chắn tầm nhìn và bảo vệ an toàn cho các loài thú lớn như Bò tót và Nai. Bên cạnh đó, sự phong phú của thảm tươi họ Gừng, Dứa gai và cây họ Cỏ tại tầng mặt đất đáp ứng nhu cầu thức ăn giàu xenluloza cho động vật nhai lại. Chế độ thủy văn phân hóa hai mùa với lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 10% đến 15% tổng lượng mưa năm buộc các đàn thú phải di chuyển về gần các con suối lớn như suối Ràng, suối Sa Mách và hồ Bà Hào (diện tích 415 ha).

Khi so sánh với các nghiên cứu tương đồng tại Vườn quốc gia Cát Tiên và khu vực Kon Hà Nừng, mức độ phong phú thành phần loài thú móng guốc tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai tương đương về mặt cấu trúc quần xã, nhưng chịu áp lực phân mảnh sinh cảnh lớn hơn. Kết quả khảo sát 400 m2 trên các tuyến ghi nhận áp lực bẫy bắt thú chiếm trên 40% tổng số các dấu hiệu tác động nhân vi. Tình trạng chăn thả gia súc tự do của cư dân địa phương ven rừng tiềm ẩn nguy cơ lây truyền các bệnh dịch truyền nhiễm nguy hiểm sang quần thể Bò tót và Nai hoang dã.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững quần thể thú móng guốc chẵn và phục hồi sinh cảnh tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

  • Tăng cường tuần tra, tháo gỡ bẫy thú: Ban Quản lý Khu Bảo tồn chủ trì, phối hợp với các Hạt Kiểm lâm liên huyện tổ chức tuần tra khép kín 100% các tuyến rừng trọng điểm tại phân khu Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An; đặt mục tiêu giảm thiểu từ 80% đến 90% số lượng bẫy thú tự chế và ngăn chặn dứt điểm tình trạng săn bắn trái phép trong giai đoạn 2018-2020.
  • Phục hồi sinh cảnh và làm giàu rừng: Chi cục Kiểm lâm và lực lượng kỹ thuật lâm sinh triển khai trồng bổ sung cây thức ăn bản địa trên diện tích 4.793 ha rừng trồng thuần loại nghèo kiệt và các trảng cây bụi thoái hóa; duy trì các bãi cỏ tự nhiên tại khu vực trảng đất ngập nước trong lộ trình từ 3 đến 5 năm.
  • Quản lý chăn thả gia súc vùng đệm: Ủy ban nhân dân các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm phối hợp cùng lực lượng kiểm lâm thiết lập vành đai kiểm soát dịch bệnh, tiến hành tiêm phòng bắt buộc 100% đàn trâu bò nuôi của hơn 5.000 hộ dân vùng đệm; nghiêm cấm hoàn toàn hoạt động chăn thả gia súc lấn sâu vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trước năm 2019.
  • Ứng dụng công nghệ bẫy ảnh quan trắc định kỳ: Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiết lập mạng lưới từ 30 đến 50 điểm bẫy ảnh tự động (camera traps) tại các điểm khoáng và bàu nước trọng điểm, thực hiện giám sát liên tục 24/7 chỉ số biến động số lượng cá thể của Cheo cheo và Bò tót theo chu kỳ hàng quý từ năm 2018 đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về kỹ thuật lập ô tiêu chuẩn 50m x 50m giám sát thú nhỏ và ma trận đánh giá sinh cảnh, giúp cán bộ quản lý xây dựng kế hoạch bảo vệ động vật hoang dã hiệu quả.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học và Bảo tồn Đa dạng Sinh học: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tích hợp công nghệ GIS MapInfo 10.5 trong phân tích không gian sinh cảnh và xử lý dữ liệu động vật rừng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và kiểm lâm địa phương: Cung cấp số liệu thực chứng để hoạch định chính sách phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt, thiết lập trạm kiểm soát lưu động và xây dựng quy chế phối hợp quản lý vùng đệm trên quy mô 100.904 ha rừng đặc dụng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Đóng vai trò là báo cáo khoa học nền tảng để các tổ chức như WWF và IUCN đánh giá mức độ ưu tiên tài trợ cho các chương trình bảo tồn loài thú móng guốc nguy cấp tại lưu vực sông Đồng Nai.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu tập trung vào những loài thú móng guốc chẵn cụ thể nào? Luận văn đi sâu nghiên cứu 5 loài đại diện gồm Bò tót, Nai đen, Hoẵng nam bộ, Cheo cheo và Lợn rừng. Cả 5 loài đều có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 hoặc Danh lục Đỏ IUCN, trong đó Bò tót là loài nguy cấp cao thuộc Nhóm IIB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Dạng sinh cảnh nào giữ vai trò quan trọng nhất đối với thú móng guốc tại khu bảo tồn? Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm 44.142 ha (tương đương 44% tổng diện tích) là sinh cảnh quan trọng nhất. Cấu trúc rừng đa tầng với độ tàn che 0,4 đến 0,6 và thảm tươi phong phú cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cùng nơi trú ẩn an toàn cho các loài thú lớn.

Phương pháp nào được sử dụng để điều tra loài Cheo cheo có kích thước nhỏ? Nghiên cứu áp dụng phương pháp lập ô mẫu lớn diện tích 2.500 m2 (50m x 50m), sau đó chia thành 25 ô nhỏ (10m x 10m). Cán bộ điều tra khảo sát chi tiết từng ô nhỏ để tìm kiếm dấu chân, bãi phân và ghi nhận các loài cây thức ăn cao dưới 25 cm.

Mối đe dọa nhân vi nghiêm trọng nhất đối với thú móng guốc tại đây là gì? Tác động đe dọa lớn nhất là tình trạng bẫy bắt động vật trái phép (chiếm hơn 40% tổng số ghi nhận tác động trên tuyến), kết hợp với việc chăn thả gia súc tự do trong rừng làm tăng nguy cơ lây truyền dịch bệnh từ vật nuôi sang thú móng guốc hoang dã.

Kết quả nghiên cứu đóng góp gì cho công tác quản lý tài nguyên rừng? Luận văn đã xây dựng bộ bản đồ chuyên đề GIS về phân bố sinh cảnh và xác lập các chỉ số giám sát định lượng cá thể/km tuyến điều tra trên diện tích 100.904 ha, tạo cơ sở khoa học trực tiếp cho việc hoạch định tuần tra và phục hồi rừng.

Kết luận

  • Xác lập hiện trạng phân bố và tình trạng quần thể của 5 loài thú móng guốc chẵn quý hiếm tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai.
  • Định lượng đặc trưng cấu trúc lâm sinh của 5 kiểu sinh cảnh chính trên tổng diện tích 100.904 ha đất rừng tự nhiên và đất ngập nước.
  • Đánh giá chi tiết tần suất bắt gặp cá thể qua hệ thống tuyến khảo sát và các ô tiêu chuẩn giám sát chuyên biệt 50m x 50m.
  • Làm rõ các áp lực nhân vi trọng yếu, nổi bật là tình trạng đặt bẫy và nguy cơ lây lan dịch bệnh từ gia súc vùng đệm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý và ứng dụng công nghệ giám sát bẫy ảnh tự động có tính khả thi cao.

Công trình là đóng góp học thuật quan trọng cho chuyên ngành Lâm học, cung cấp hệ số liệu thực chứng phục vụ xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2018-2025. Các cơ quan quản lý lâm nghiệp và tổ chức bảo tồn cần nhanh chóng đưa các khuyến nghị của luận văn vào thực tế tuần tra, góp phần bảo tồn bền vững nguồn gen động vật quý hiếm tại vùng sinh thái miền Đông Nam Bộ.