Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu về chi Artocarpus a.) Nghiên cứu về đặc điểm phân bố, thực vật học và giá trị của một số loài thuộc chi Artocarpus Chi Artocarpus thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), là một họ thực vật lớn gồm khoảng 60 chi và hơn 1400 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á.Trên thế giới Chi này ghi nhận khoảng 60 loài, phần lớn là cây thân gỗ có nhựa mủ màu trắng, hoa đơn tính. Hoa đực gồm 2 hay 4 phiến, một nhị với chỉ nhị ở giữa, 2 bao phấn 2 bên.
Hoa cái có màu hơi xanh, nhỏ, phát triển thành gié nạc, ngắn. Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ, có thể phát triển rất to. Lá kèm tư nhỏ như A.) và nguyên cho tới lớn và xẻ thùy A. communis Forst &Forst.
Một số loài có quả ăn được và gây trồng tại nhiều nước như: A. Ngoài ra, nhiều loài cây thuộc Chi này còn được sử dụng trong y học. Tại Indonesia một số loài thuộc chi Artocarpus đã được sử dụng làm thuốc y học cổ truyền để điều trị sốt, kiết lỵ, bệnh sốt rét, chống ung thư, kháng khuẩn chống viêm bởi trong các loài cây này rất giàu các hợp chất phenolic(Jagtap and Bapat, 2010). Theo kết quả nghiên cứu của Sirkawar và đồng tác giả (2014) các loài A.
heterophyllus có chứa các hoạt chất điều trị viêm gan C hiệu quả và những rối loạn về gan, bệnh tiểu đường. Ngoài ra, Wetprasit (2000) đã ghi nhận sự ức chế đối với virus Herpes (HSV-2) từ dịch chiết của loài cây A.) Nghiên cứu nhân giống và kỹ thuật trồng một số loài cây thuộc chi Artocapus Nghiên cứu về kỹ thuật gieo vườn ươm và trồng rừng một số loài Mít như: A. altilis, quả được thu hái khi đã chín sinh lý, sẽ tiến hành cất trữ khi bảo quản hạt giống, thông thường bảo quản khô thì cất trữ trong chai, lọ, túi nilon, hoặc thùng kín ở nhiệt độ trong phòng 20-300C 3 có thể bảo quản lâu hơn khi tiến hành bảo quản lạnh với nhiệt độ từ 0 - 100C được ít nhất 1-3 năm hoặc bảo quản trong cát hoặc đất có ẩm độ cao từ 50-60 % được 1-2 tháng. Cách xử lý nẩy mầm của hạt giống cây đối với hạt bảo quản khô, phổ biến tại các vườn ươm hiện nay, ở một số nước như Malaysia, Thái Lan là ngâm hạt trong nước với các nhiệt độ khác nhau, thời gian ngâm khác nhau, sau đó vớt ra để ráo nước rồi tiến hành ủ trong túi vải.
hàng ngày rửa chua khi hạt nẩy mầm thì đem gieo. Đối với hạt bảo quản ẩm thì không cần xử lý bằng nước ở các nhiệt độ khác. Nên trồng rừng bằng cây con có bầu khi cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn, mật độ trồng theo quy trình kỹ thuật của từng loài (Garner, 1976). Nghiên cứu của Rukayah (1984) cho thấy rằng, phương pháp phổ biến và đơn giản nhất để nhân giống loài Mít (Artocarpus heterophyllus) là từ hạt.
Nơi được chọn để trồng loài cây này trước tiên cần phải xử lý tốt thực bì, loại bỏ những gốc cây và rễ của luân kỳ cây trước để tránh mối mọt và bệnh về rễ. Thông thường, loài cây này được trồng với mật độ 400 cây/ha (5x5m). Tuy nhiên nếu trồng ở vùng đất mới mật độ có thể tăng lên 625cây/ha (4x4m). Các hố trồng có kích thước 0,6x0,6x0,6m, cần được thiết kế và đào trước 14 ngày trước khi trồng.
Ngoài ra, chế độ chăm sóc sau trồng là khâu rất quan trọng để kích thích sự phát triển của cây, phân bón hỗn hợp các loại phốt phát và Kali thường được sử dụng. Chế độ chăm sóc năm đầu tiên cách 3 tháng tiến hành bón thúc 113g/cây, sang năm thứ 2 tiến hành bón 170g/cây sau mỗi 03 tháng. Trên một số điều kiện lập địa là đất cát và đất sét thì một số loài cây trồng họ Đậu được trồng xen như các loài cây thuộc các Chi:Calopogonium, Centrosema và Pueraria, theo tỷ lệ 5:4:1, nhằm mục đích cải tạo đất, ngăn chặn cỏ dại phát triển và giúp tạo bóng cho cây trong giai đoạn mới trồng.Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu của Parshant Bakshi (2014) tại Ấn Độ, hố trồng loài Mít (A. heterophyllus) được thiết kế là 1mx1mx1m, đồng thời sử dụng 500g Supe phốt phát trộn với đất trước khi trồng cây ít nhất 10 ngày.
Ngoài ra, chăm sóc sau trồng được tiến hành 03 lần 1 năm với lượng phân NPK mỗi lần với lượng tương ứng là 75:60:50g/cây, bón liên tục trong 5 năm. altilis) là loài thực vật phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới ẩm, phát triển tốt ở nơi có độ cao dưới 650m với nhiệt độ trung bình hàng năm 21- 320C và lượng mưa trong khoảng 1500-2500mm. Loài cây này ưa tầng đất sâu, màu mỡ và thoát nước tốt, cây mới trồng ưa bóng nhưng về sau lại có xu hướng ưa sáng. Hạt thường được xử lý và gieo ươm ngay sau khi thu hái bởi chúng thường mất đi khả năng sống sau 02 tuần.
Hạt nên được gieo ươm cách nhau 5cm với độ sâu 1cm, và nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 24-270C. Khoảng 85% hạt sẽ nảy mầm sau khi gieo khoảng 2 tuần và khi cây con được 01 năm tuổi sẽ tiến hành trồng rừng.org/user/Plant.aspx?LatinName=Artocarpus+altilis). Các nghiên cứu về loài Mít nài a.) Phân loại và đặc điểm hình thái: Loài Mít nài có tên khoa học là (Artocarpus chama Buchanan-Hamilton), thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Trên thế giới có phân bố ở một số nước như: Campuchia, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Indonesia…Mít nài có chiều cao tới 35 m, thân thẳng, hình trụ và đường kính lên đến 90 cm, cây có bạnh vè lớn cao đến 3m, cây có nhựa màu trắng sữa, vỏ cây màu xám trắng, nhẵn.
Lá có hình elíp đến hình trứng, mọc cách, có kích thước 6,5-26 cm x 3,5x15cm, mặt trên có lông thưa, mặt dưới lá có nhiều lông dày, lá có 1 gân chính và 10-15 đôi gân phụ nằm so le nhau. Quả có hình gần tròn, đường kính từ 7-13cm, có cuống dài 1-3 cm, khi chín có màu vàng, vỏ ngoài quả có các gai nhọn, hơi mềm, bên trong quả có các múi nhỏ màu vàng (Jagtap và Bapat, 2010).) Đặc điểm sinh thái: Cây Mít nài có biên độ sinh thái rộng, phân bố đa dạng trên các dạng lập địa khác nhau, từ những rừng khộp, đồi núi dốc, chúng thường ở đai cao từ 500m nhưng đôi khi đến 900m vẫn ghi nhận sự phân bố của loài cây này. Là loài cây ưa sáng, sinh trưởng tương đối nhanh, dễ gây trồng, có thể trồng thuần loài hoặc hỗn giao với nhiều loài cây khác. Đa số các loài cây trong chi Artocarpus ưa đất sâu, thoát nước, ở giai đoạn cây con thì cây chịu bóng nhưng lại ưa sáng khi cây phát triển lớn dần (Corner, 1988).) Giá trị sử dụng: Tại một số quốc gia như Malaysia và Indonesia, gỗ Mít nài có giá trị thương mại rất lớn, gỗ loài Mít nài rất nặng, cứng, bền, có đặc tính cơ lý tốt, chống nấm và mối mọt.
Lõi gỗ có màu vàng nâu đến đỏ cam bên cạnh mục đích để làm bột gỗ, nội thất cao cấp, đồ gia dụng hoặc sử dụng để đóng tàu, thuyền thì người dân tại nhiều nước còn trồng để lấy quả ăn. Ở Campuchia, người ta dùng lõi gỗ để chế một loại nước màu vàng nghệ dùng để nhuộm quần áo của các nhà sư. Quả tròn, ngọt có hương vị dễ chịu. Nhựa của cây này được trộn với sáp dùng trong ngành công nghiệp chế tạo keo dính (Corner, 1988).
Các nghiên cứu về chi Artocarpus a.) Đặc điểm phân bố, thực vật học và giá trị của một số loài thuộc chi Artocarpus Tại Việt Nam, Chi Artocarpus (họ Dâu tằm, Moraceae) là một chi thực vật khá phổ biến, ghi nhận được 15 loài. Ngoài giá trị làm thực phẩm (lấy quả) thì gỗ của một số loài cây trong chi này có tính chất cơ lý tốt, cứng, chắc, vân đẹp và rất có giá trị thương mại. Bên cạnh đó, nhiều loài còn được sử dụng trong y học dân gian để chữa bệnh. Cây Chay bắc bộ (A.
tonkinensis) có phân bố nhiều ở miền Bắc, lá của loài cây này được sử dụng để điều trị đau lưng và viêm khớp, nhiều nghiên cứu cho thấy, cặn chiết ethanol của lá Chay có hoạt chất ức chế miễn dịch, chống viêm và kháng ung thư (Đỗ Tất Lợi, 1991). Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng thành công dịch chiết thô của cây Chay bắc bộ trong việc điều trị bệnh nhược cơ. lakoocha) có phân bố chủ yếu ở Lào Cai, Thanh Hóa…thường được dùng làm thuốc xổ, vỏ cây được tán thành bột đắp vết thương để rút mủ hoặc pha thuốc đắp mụn nhọt và các vết nứt nẻ ở da trong y học dân gian (Võ Văn Chi, 2011). heterophyllus) thường dùng để điều trị ghẻ lở, sản hậu, ít sữa.
Lá mít dùng làm thuốc lợi sữa, chữa ăn uống không tiêu, ỉa chảy và trị cao huyết áp (Võ Văn Chi, 2011). 6 Nhiều công trình nghiên cứu về một số loài thuộc Chi Artocarpus đã phát hiện được các hợp chất có hợp chất sinh học quý, hoạt chất flavonoid phân lập từ cây A. communis có tính kháng viêm; các prenyl flacvon từ rễ cây A. altilis có tác dụng kháng vi trùng lao và có hoạt chất độc tế bào đối với tế bào ung thư biểu mô và ung thu vú (Phạm Hoàng Hộ, 2000).) Nghiên cứu nhân giống và kỹ thuật trồng một số loài cây thuộc chi Artocapus Tại Việt Nam, một số loài cây thuộc Chi Artocapus thường được trồng với mục đích lấy quả vì vậy kỹ thuật nhân giống trong những năm gần đây thường sử dụng phương pháp ghép hoặc chiết cành để tạo cây giống.
Theo tài liệu hướng dẫn cách trồng và chăm sóc cây Chay bắc bộ (A. Tonkinensis) của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, việc đầu tiên khi trồng cây chay Bắc bộ là khâu chuẩn bị đất tốt và đào hố trồng đúng kích thước. Đất trồng cây Chay nên là loại đất feralit hoặc đất sung tích có tầng đất sâu và dày đồng thời cần phải thoát nước tốt. Hố trồng cây nên được đào trước đó 1 tháng, kích thước hố tối thiểu là 40x40x40 cm và khoảng cách giữa các hố với nhau khoảng từ 7m trở lên.
Sau khi đào xong bón lót cho mỗi hố một lượng phân bón NPK cộng với phân Lân và vôi bột khử trùng. Trộn với đất và ủ trong 1 tháng trước khi đem cây ra trồng. Cây Chay bắc bộ thích hợp khí hậu nóng ẩm mưa nhiều và có ánh sáng mạnh. Cây nên trồng ở những nơi thoáng đãng và có diện tích rộng để cây phát triển tốt hơn vì tán của cây khá rộng.
Khi trồng tiến hành trồng vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.