Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DÂN SỐ 1. Dân số và quy mô dân số Dân số Dân số là một tập hợp người sống trên một lãnh thổ, được đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ. Dân số vừa là yếu tố của lực lượng sản xuất vừa là lực lương tiêu dùng.
Vì vậy, quy mô, cơ cấu, chất lượng và tốc độ tăng (hoặc giảm) dân số có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội (có thể kích thích hoặc hạn chế). Quy mô dân số “Quy mô dân số của một quốc gia (hay một vùng lãnh thổ) tại một thời điểm nhất định là tổng số người sống hay tổng số dân của một quốc gia (vùng lãnh thổ) ấy tại thời điểm đó” [33]. Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên. Vào những thời điểm nhất định, thường là giữa năm hay cuối năm, người ta tính số người cư trú trong những vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia, mỗi khu vực hay toàn thế giới.
Quy mô dân số là chỉ tiêu định lượng quan trọng trong nghiên cứu dân số. Những thông tin về quy mô dân số có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong tính toán, phân tích, so sánh với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và là căn cứ để hoạch định chiến lươc phát triển. Quy mô dân số là đại lượng không thể thiếu được trong việc xác định mức sinh, mức tử và di dân. Gia tăng dân số Gia tăng dân số là sự biến đổi về số lượng dân số của một quốc gia hay vùng lãnh thổ theo thời gian.
9 Gia tăng dân số do 3 yếu tố chi phối: sinh, chết và di dân. Gia tăng dân số bao gồm hai bộ phận cấu thành là gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học. Gia tăng tự nhiên - Các tỉ suất sinh: + Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em sinh ra trong năm còn sống so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần (%) Trong đó: CBR: tỉ suất sinh thô. B: số trẻ em sinh ra sống trong một năm.
P: dân số trung bình của địa phương trong năm. + Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi: được tính bằng tỉ số giữa số trẻ em do các bà mẹ ở từng độ tuổi sinh ra trong năm còn sống so với số bà mẹ trung bình ở từng độ tuổi trong cùng thời điểm (đơn vị tính: %) Trong đó: ASFRx : tỉ suất sinh đặc trưng của phụ nữ ở độ tuổi x. Bx : số trẻ em do bà mẹ ở độ tuổi x sinh ra còn sống trong năm. Wx : số phụ nữ trung bình ở độ tuổi x.
+ Tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi có tỉnh riêng cho từng tuổi hoặc cho từng nhóm 5 tuổi. + Tổng tỉ suất sinh (số con bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) là tổng tỉ suất sinh theo lứa tuổi của tất cả các khoảng cách tuổi tại một năm nào đó. Nói một cách khách, tổng tỉ suất sinh cho ta thấy số con trung bình của một phụ nữ có thể sinh ra trong suốt cuộc đời mình, nếu như người phụ nữ đó trải qua tất cả các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi của năm đó. - Các tỉ suất tử: 10 + Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm (đơn vị tính: %).
Trong đó: CDR: tỉ suất chết thô. D: số người chết trong năm. P: dân số trung bình của địa phương trong năm. + Tỉ suất tử vong trẻ em 0 – 1 tuổi: là tương quan giữa số trẻ em dưới 1 tuổi bị chết trong năm so với số trẻ em sinh ra còn sống ở cùng thời điểm, (đơn vị tính:%) + Tuổi thọ trung bình (hay còn gọi là triển vọng số trung bình) là ước tính số năm trung bình mà một người sinh ra có thể sống được.
+ Tuổi thọ trung bình liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào mức chết của dân cư. Nếu tỉ suất chết thô, đặc biệt là IMR càng thấp thì tuổi thọ trung bình càng cao và ngược lại. Đây là một thước đo quan trọng của dân số, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống. - Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được xác định bằng hiệu số giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất chết thô trong một khoảng thời gian xác định, trên một đơn vị lãnh thổ nhất định.
Trong đó: RNI: tỉ suất gia tăng tự nhiên CBR: tỉ suất sinh thô CDR: tỉ suất chết thô Gia tăng cơ học Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: Gia tăng cơ học là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm tạo nên một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định [33]. Có 2 bộ phận cấu thành của một quá trình di dân: xuất cư và nhập cư. 11 Tỉ suất gia tăng cơ học = Tỉ suất nhập cư – Tỉ suất xuất cư 1. Cơ cấu dân số Sự phân chia toàn bộ dân số thành các bộ phận khác nhau theo một số tiêu thức tạo nên cơ cấu dân số.
Đây là những đặc trưng biểu thị chất lượng dân số, có liên quan chặt chẽ với quy mô và tốc độ gia tăng dân số. Các loại cơ cấu dân số chủ yếu được sử dụng nhiều trong dân só học là cơ cấu sinh học, cơ cấu xã hội và cơ cấu dân tộc. Cơ cấu sinh học (cơ cấu tuổi, giới tính) Tuổi và giới tính là những đặc tính cơ bản nhất của một dân số. Mỗi dân số có sự cấu thành theo tuổi và giới khác nhau (tức là số lượng người từng độ tuổi só với toàn bộ dân số, số lượng nam và nữ trong toàn bộ dân số hay trong từng nhóm tuổi) và cấu trúc này có thể tác động đang kể đến tình hình nhân khẩu và kinh tế của cả hiện tại và tương lai.
Cơ cấu dân số theo giới tính + Tỉ số giới tính là sự so sánh giữa số nam với số nữ của dân số một vùng tại một thời điểm nhất định. Thông thường được biểu thị bằng số nam trên 100 nữ. + Tỉ số giới tính khi sinh là số bé trai được sinh ra còn sống trên 100 bé gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh, bình thường, chỉ số này là 105. 12 Cơ cấu theo độ tuổi Cơ cấu dân số theo độ tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo từng lứa tuổi nhất định.
Tùy vào mục đích nghiên cứu mà có thể phân chia cơ cấu theo tuổi của dân số theo khoảng cách đều nhau hay theo khoảng cách không đều. Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau:là sự phân chia dân số thành các nhóm người ở độ tuổi: dưới độ tuổi lao động từ 0 – 14 tuổi, trong độ tuổi lao động từ 15 – 59 tuổi và trên độ tuổi lao động từ 60 tuổi trở lên. Cơ cấu này có sự thay đổi theo thời gian và khác biệt giữa cá khu vực, quốc gia. Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau: là sự phân chia dân số thành các nhóm theo cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hay 10 năm.
Trong đó, phổ biến là sự phân chia theo khoảng cách 5 năm với mô hình thể hiện là tháp tuổi (tháp dân số). Đây là một dạng biểu đồ trình bày cơ cấu tuổi và giới tính của một dân số, bằng cách phân chia số lượng hay tỉ lệ phần trăm nam và nữ ở mỗi nhóm tuổi trên hình vẽ. Tháp dân số cho chúng ta một bức tranh sinh động về các đặc tính của dân số. Cơ cấu theo xã hội Cơ cấu xã hội của dân số là việc phân chia theo các tiêu chí về khía cạnh xã hội như lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật… Cơ cấu dân số theo lao động: cho biết nguồn lao động và dân số hoạt động theo khu vực kinh tế.
+ Nguồn lao động: bao gồm dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. “Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình hoặc 13 chưa có nhu cầu làm việc” [33]. Nguồn lao động được chia làm 2 nhóm: Nhóm dân số hoạt động kinh tế: bao gồm những người có việc làm ổn định, có việc làm tạm thời và những người có nhu cầu lao động nhưng chưa có việc làm. Nhóm dân số không hoạt động kinh tế: bao gồm học sinh, sinh viên, những người nội trợ và những người thuộc tình trạng khác không tham gia lao động.
Tỉ lệ dân số hoạt động kinh tế so với dân số trong độ tuổi lao động và so với tổng số dân chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu tuổi của dân số, đặc điểm kinh tế xã hội và khả năng tạo việc làm cho những người trong độ tuổi lao động. Đây là bộ phận tích cực và năng động nhất của dân số, là lực lượng quyết định cho sự phát triển của một quốc gia. + Dân số hoạt động theo khu vực kinh tế Dân số hoạt động được chia ra thành ba khu vực kinh tế cơ bản: khu vực I (nông – lâm – ngư nghiệp), khu vực II (gồm lao động công nghiệp và xây dựng) và khu vực III (lao động dịch vụ). Xem xét tỉ lẹ lao động tham gia vào các khu vực kinh tế sẽ cho chúng ta biết trình độ phát triển lực lượng sản xuất của một quốc gia.
Thực chất, tương quan về tỉ lệ lao động của ba khu vực này tương ứng với ba thời kì phát triển của ba nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp. Cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa phản ánh trình độ dân trí, học vấn của dân cư một quốc gia, một vùng hay toàn thế giới. Các tiêu chí thường được sử dụng để đánh gia trình độ văn hóa của dân cư là: + Tỉ số người lớn biết chữ là số phần trăm những người từ đủ 15 tuổi trở lên biết đọc, hiểu, viết câu ngắn gọn, đơn giản trong cuộc sống hàng ngày.