Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số: 62140501) của tác giả Nguyễn Huy Vị, do TS. Đặng Xuân Hải hướng dẫn khoa học, được hoàn thành tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 9 năm 2009 với đề tài: "Nghiên cứu mô hình trường cao đẳng cộng đồng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương ở Việt Nam".
Luận án đặt trong bối cảnh mô hình trường Cao đẳng cộng đồng (CĐCĐ) – một loại hình cơ sở đào tạo ra đời từ năm 1901 tại Hoa Kỳ (khởi đầu từ trường Joliet Junior College ở bang Illinois) – đã chứng minh vai trò chuyển biến nhận thức từ nền giáo dục đại học (GDĐH) hàn lâm phục vụ thiểu số sang nền GDĐH đại chúng phục vụ đông đảo người học. Tại Việt Nam, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực (NNL) phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục sau trung học đã được khẳng định tại Tờ trình số 8195/ĐH ngày 04/11/1996 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII (24/12/1996), Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Kết luận Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX. Mặc dù 9 trường CĐCĐ thí điểm đã lần lượt ra đời trong giai đoạn 2001–2003, việc nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn để hoàn thiện mô hình tổ chức, quản lý và liên thông đào tạo của loại hình trường này vẫn còn là khoảng trống cần giải quyết.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình trường CĐCĐ trên thế giới và tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện việc áp dụng và tiếp tục phát triển mô hình này tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) còn khó khăn.
Các câu hỏi nghiên cứu được xác định theo văn bản gồm hai nhóm:
- Về mặt lý luận:
- Phải chăng mô hình trường CĐCĐ ngày nay đã trở thành một giải pháp tích cực để thực hiện triết lý GDĐH đại chúng, đồng thời là tài sản văn minh chung mang tính hữu thể và phi vật thể của nền GDĐH thế giới?
- Triết lý, sứ mệnh, mục tiêu và nội dung hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như những đặc trưng chủ yếu của mô hình trường CĐCĐ phổ biến hiện nay là gì?
- Mô hình trường CĐCĐ có phải là giải pháp tối ưu đối với sự phát triển giáo dục chuyên nghiệp (GDCN) nói riêng và xây dựng nền GDĐH đại chúng nói chung đối với các địa phương ở Việt Nam?
- Áp dụng mô hình trường CĐ cộng đồng như thế nào là thích hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH các địa phương ở Việt Nam?
- Các trường đại học (ĐH) địa phương ở các tỉnh của Việt Nam hiện nay đang thực hiện các chức năng của trường CĐ cộng đồng như thế nào?
- Về mặt thực tiễn:
- Tính chất cộng đồng trong hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) nước ta đã tồn tại như thế nào trước và sau khi hệ thống các trường CĐCĐ được thiết lập trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế?
- Khi áp dụng mô hình trường CĐCĐ vào mỗi địa phương thì giải quyết mối quan hệ giữa trường CĐCĐ, trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) và các cơ sở GDCN khác của địa phương như thế nào là tối ưu? Có phải việc áp dụng mô hình trường CĐCĐ là con đường thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế giáo dục vốn có ở địa phương hay không?
- Có thể chuyển đổi các trường CĐSP địa phương thành các trường CĐCĐ hay không; để rồi từ đó, khi có đủ điều kiện, sẽ nâng cấp thành các trường Đại học đa ngành, đa cấp thuộc các địa phương hay không?
Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Mô hình trường CĐCĐ đã được áp dụng ở Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH địa phương; tuy nhiên mô hình hiện hành còn nhiều bất cập. Nếu xây dựng được các giải pháp hữu hiệu, khả thi, bảo đảm cơ sở lý luận và sát thực tiễn để hoàn thiện và phát triển mô hình trường CĐCĐ, loại hình trường này sẽ đóng góp tích cực vào việc đào tạo nhân lực và hiện thực hóa mục tiêu GDĐH đại chúng.
Về nhiệm vụ nghiên cứu, luận án thực hiện 3 nhiệm vụ chính: (1) Nghiên cứu lý luận về mô hình CĐCĐ trên thế giới trong hơn một thế kỷ qua về lịch sử, triết lý, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý; (2) Nghiên cứu chiến lược phát triển GDĐH và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về CĐCĐ; (3) Nghiên cứu thực tiễn hoạt động của hệ thống trường CĐCĐ ở Việt Nam và đề xuất, thử nghiệm các giải pháp hoàn thiện, phát triển mô hình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Hệ thống các cơ sở GDĐH ở địa phương gồm các trường CĐCĐ, trường CĐSP và trường ĐH thuộc địa phương.
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu tổ chức, quản lý và cơ chế hoạt động trường CĐCĐ và trường có chức năng CĐCĐ trong môi trường KT-XH của các địa phương ở Việt Nam.
- Giới hạn nghiên cứu: Về lý luận, đề tài tổng kết các con đường hình thành, mô hình tổ chức và hoạt động, không đi sâu vào quản lý quá trình đào tạo chi tiết; về thực tiễn, tiến hành khảo sát tại 9 cơ sở thuộc 3 miền đất nước (CĐCĐ Hải Phòng, CĐCĐ Quảng Ngãi, CĐSP Quảng Ngãi, CĐCĐ Tiền Giang, CĐSP Tiền Giang, ĐH Tiền Giang, CĐSP Phú Yên, ĐH Phú Yên, CĐCĐ Bình Thuận) trong thời gian từ tháng 12/2004 đến tháng 12/2008.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tại Hoa Kỳ, lịch sử nghiên cứu mô hình CĐCĐ trải dài suốt thế kỷ XX với nhiều công trình nền tảng:
- Thập niên 1930: Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching công bố tác phẩm "State Higher Education in California"; Walter C. Eells xuất bản tác phẩm "The Junior College" (1931).
- Thập niên 1960–1970: James W. Thornton với công trình "The Community College"; Charles R. Monroe với tác phẩm "Profile of the Community College".
- Thập niên 1970–1990: Arthur M. Cohen và Florence B. Brawer công bố các công trình bảo vệ chức năng hàn lâm kết hợp chuyển tiếp của CĐCĐ gồm: "The Two-year College Instructor Today" (1977), "The Collegiate Function of Community College: Fostering Higher Learning Through Curriculum and Student Transfer" (1987), và "Strengthening Collegiate Education in Community Colleges" (1994).
- Tại Pháp: Nghiên cứu mô hình Viện Đại học Công nghệ (Institut Universitaire de Technologie – IUT) cấp văn bằng DUT (Diplôme Universitaire de Technologie), tiêu biểu là báo cáo kỷ niệm 40 năm của Hội đồng các Giám đốc IUT (ADIUT) xuất bản năm 2007: "40 ans (1966-2006) IUT-L’Expérience. Quatrième enquête nationale sur le devenir des diplômés de DUT- Les diplômés 2004".
Tại Việt Nam:
- Giai đoạn trước 1975 ở miền Nam: Viện ĐH cộng đồng Tiền Giang (thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho) và Viện ĐH cộng đồng duyên hải Nha Trang (1972). Năm 1996, hai nguyên Viện trưởng Nguyễn Văn Thùy và Trần Ngọc Lợi xuất bản tác phẩm "Đại học cộng đồng Hoa Kỳ" tại Hoa Kỳ để đúc kết kinh nghiệm mô hình.
- Giai đoạn Đổi mới từ sau năm 1986: Viện Nghiên cứu ĐH&GDCN thuộc Bộ GD&ĐT chủ trì các nghiên cứu ứng dụng mô hình CĐCĐ với các tác giả Đặng Bá Lãm, Lê Đông Phương, Phạm Quang Sáng, Đặng Văn Định, Nguyễn Việt Hùng, Trần Khánh Đức, Mai Văn Tỉnh, Đặng Xuân Hải; trọng tâm là đề tài nhánh năm 1995: "Dự án nghiên cứu thiết lập mô hình trường đại học cộng đồng trong điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam" do Đặng Bá Lãm làm chủ nhiệm (nghiên cứu tiền khả thi tại Hải Phòng, Hà Tây, Thanh Hóa, Phú Yên, Đồng Tháp).
- Giai đoạn từ năm 2001: Các tác giả Trần Phước Đường, Lê Quang Minh, Phạm Hữu Ngãi, Ngô Tấn Lực, Phan Văn Nhẫn nghiên cứu áp dụng CĐCĐ giải quyết NNL khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các công trình trước đây chủ yếu dừng ở mức độ khảo cứu lý thuyết và kinh nghiệm Bắc Mỹ mang tính tư biện, rồi đề xuất triển khai thí điểm; chưa giải quyết triệt để vấn đề cấu trúc tổ chức thích ứng với điều kiện địa phương Việt Nam, cơ chế tự-liên thông (self-transfer) nội bộ, cơ chế chuyển tiếp sinh viên chương trình khoa học cơ bản đại cương (KHCBĐC) lên các trường ĐH 4 năm, cũng như mối quan hệ tương tác giữa trường CĐCĐ với hệ thống trường CĐSP và trường ĐH địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các khái niệm và cơ sở lý thuyết sau:
- Khái niệm mô hình và mô hình nhận thức (Conceptive model) trong giáo dục: Mô hình là công cụ phản ánh cấu trúc, mối quan hệ và cơ chế vận hành của một tổ chức giáo dục mong muốn. Tác giả vận dụng phân loại 4 phương pháp xây dựng mô hình trong giáo dục theo Đặng Bá Lãm: phương pháp nội quan, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích và phương pháp quan sát khách quan.
- Khái niệm Cộng đồng và Giáo dục cộng đồng (Community Education): Giáo dục cộng đồng là phương thức mở, mềm dẻo, phục vụ học tập suốt đời, đào tạo theo nhu cầu địa phương thông qua hai thiết chế là Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) và Nhà trường cộng đồng (NTCĐ), dựa trên các nghiên cứu của Đặng Quốc Bảo và Đặng Xuân Hải.
- Khái niệm Trường Cao đẳng cộng đồng: Tiếp cận theo lịch sử phát triển tại Hoa Kỳ (từ tư tưởng phân kỳ giáo dục của William Rainey Harper năm 1896, bằng Associate Degree, đến báo cáo của Ủy ban Truman năm 1946 và quan điểm "Community College is the People's College") kết hợp với khung pháp lý tại Việt Nam theo Tờ trình 8195/ĐH (1996), Quyết định số 37/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/8/2000 ban hành Quy chế tạm thời, và Dự thảo Quy chế CĐCĐ năm 2005.
- Cơ sở phương pháp luận: Quan điểm duy vật biện chứng về xu thế đại chúng hóa GDĐH, gắn liền Chiến lược phát triển giáo dục 2001–2010 và Bốn trụ cột giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO: "Học để biết; Học để làm; Học để chung sống; Học để làm người".
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp văn bản pháp quy, báo cáo khoa học và tài liệu lịch sử giáo dục trong nước và quốc tế.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đúc kết thành công và hạn chế của các mô hình CĐCĐ trên thế giới và mô hình 9 trường CĐCĐ thí điểm tại Việt Nam.
- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng bảng hỏi khảo sát và đàm thoại trực tiếp với cán bộ quản lý, giảng viên và người học tại các địa phương.
- Phương pháp quan sát: Khảo sát thực địa cơ sở vật chất và hoạt động đào tạo tại các trường CĐCĐ, CĐSP và ĐH địa phương.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà quản lý và nhà khoa học giáo dục trong việc lựa chọn và thẩm định giải pháp.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng các phần mềm thống kê toán học để phân tích dữ liệu điều tra.
Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm: Báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (1944, 1994, NCES 1994); số liệu thống kê chỉ tiêu tuyển sinh, cơ cấu chuyên ngành đào tạo ngoài sư phạm của các trường CĐSP và số liệu tuyển sinh hệ chính quy giai đoạn 2002–2007 của 9 trường CĐCĐ đầu tiên tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của mô hình trường Cao Đẳng Cộng Đồng
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình trường CĐCĐ. Tác giả phân tích nguồn gốc hình thành của loại hình này tại Hoa Kỳ từ năm 1896 khi W. Harper đề xuất chia chương trình Viện ĐH Chicago thành hai cấp Junior College và Senior College. Năm 1901, trường Joliet Junior College được thành lập, đánh dấu sự xuất hiện của văn bằng Associate Degree.
Sự phát triển số lượng các trường ĐH 2 năm tại Hoa Kỳ được luận án trích xuất qua các bảng thống kê lịch sử:
| Năm |
Tổng số trường |
Trường công lập |
Trường tư thục |
Tổng số sinh viên |
| 1910 |
3 |
3 |
0 |
- |
| 1918 |
46 |
- |
- |
4.418 |
| 1928 |
248 |
114 |
134 |
- |
| 1930 |
277 |
- |
- |
55.301 |
| 1940 |
456 |
- |
- |
149.854 |
| 1980 |
- |
- |
- |
Tỷ lệ vào CĐCĐ đạt 49,2% tổng SV ĐH năm đầu |
Tổ chức đại diện của các trường CĐ 2 năm Hoa Kỳ trải qua ba lần đổi tên: thành lập năm 1920 với tên gọi Hiệp hội các Cao đẳng Hoa Kỳ (AAJC), đổi tên năm 1930 thành Hiệp hội các trường Cao đẳng và Cao đẳng cộng đồng Hoa Kỳ (AACJC), và đến năm 1990 chính thức đổi thành Hiệp hội các trường Cao đẳng cộng đồng Hoa Kỳ (AACC).
Luận án tổng hợp danh sách hơn 20 quốc gia có cơ sở đào tạo tương đương CĐCĐ: Canada (CAAT, CEGEP), Pháp (IUT, SETS), CHLB Đức (Fachhochschule, Volkshochschule), Australia (College of Advanced Education, College of Further Education), Nhật Bản (Tanki-daigaku), Đài Loan (Junior College), Thái Lan, Trung Quốc (Workers College, Two-year Vocational University).
Chương 1 đúc kết 7 đặc trưng cốt lõi của trường CĐCĐ:
- Vị trí và cơ chế quản lý: Đặt dưới sự quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương, gắn với địa hạt giáo dục.
- Sứ mệnh: Đào tạo NNL đa cấp, đa ngành phục vụ trực tiếp địa phương, thúc đẩy đại chúng hóa GDĐH.
- Chương trình đào tạo: Mềm dẻo, từ ngắn hạn vài tuần đến cao đẳng 2–3 năm, kết hợp chương trình chuyển tiếp KHCBĐC.
- Người học: Tuyển sinh mở rộng, tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân.
- Người dạy: Chú trọng giảng viên có năng lực thực hành nghề nghiệp.
- Cơ cấu tổ chức: Gọn nhẹ, gắn với Hội đồng trường có đại diện doanh nghiệp và cộng đồng.
- Cơ sở vật chất và tài chính: Đa dạng hóa nguồn lực từ ngân sách địa phương, học phí và hợp tác doanh nghiệp.
Chương 2: Các mô hình trường Cao đẳng cộng đồng đã hình thành ở Việt Nam
Chương 2 phân tích lịch sử và thực trạng các mô hình trường CĐCĐ tại Việt Nam qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1975 ở miền Nam: Hình thành Viện ĐH cộng đồng Tiền Giang (1971) và Viện ĐH cộng đồng duyên hải Nha Trang (1972) theo mô hình đại học ngắn hạn phục vụ địa phương.
- Giai đoạn đổi mới và hội nhập: Triển khai 9 trường CĐCĐ đầu tiên gồm: Hải Phòng, Hà Tây, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long và Kiên Giang.
Tác giả khảo sát thực trạng giáo dục chuyên nghiệp tại các địa phương và chỉ ra hiện tượng chuyển dịch mục tiêu của các trường CĐSP địa phương: do nhu cầu giáo viên giảm, các trường CĐSP mở rộng mạnh sang đào tạo các ngành ngoài sư phạm. Dữ liệu từ các biểu đồ 2.1–2.6 và Bảng 2.10 cho thấy sự gia tăng tỷ trọng chỉ tiêu ngoài sư phạm ở các trường CĐSP địa phương, tạo nên sự chồng chéo chức năng với các trường CĐCĐ trên cùng địa bàn.
Bên cạnh đó, tác giả phân tích số liệu tuyển sinh hệ chính quy giai đoạn 2002–2007 (Bảng 2.11) và chỉ số tổng hợp của 9 trường CĐCĐ (Bảng 2.12), chỉ ra những thuận lợi (đáp ứng nhân lực tại chỗ, chi phí thấp) và khó khăn lớn: khung pháp lý chưa hoàn chỉnh do vẫn áp dụng quy chế tạm thời, cơ chế liên thông chuyển tiếp lên ĐH 4 năm chưa thông suốt, cơ sở vật chất và năng lực giảng viên thực hành còn hạn chế. Luận án cũng phân tích mô hình Trường ĐH địa phương (như ĐH Tiền Giang, ĐH Phú Yên) và xác định đây là một dạng nhà trường cộng đồng cấp ĐH bao hàm các chức năng của trường CĐCĐ.
Chương 3: Hoàn thiện và phát triển mô hình trường Cao Đẳng cộng đồng ở Việt Nam
Chương 3 xây dựng khung giải pháp dựa trên 4 nguyên tắc: Kế thừa, Thực tiễn, Chất lượng và hiệu quả, Bền vững.
Tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp 1: Hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ như một loại hình trường Cao đẳng chính thức trong hệ thống GDQD, gồm 7 nội dung:
- Hoàn thiện mục tiêu đào tạo theo hướng đa cấp, đa ngành, bám sát nhu cầu nhân lực địa phương.
- Cải tiến nội dung đào tạo, cấu trúc chương trình theo mô-đun và tín chỉ.
- Đổi mới phương pháp đào tạo, tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp.
- Thực hiện quy trình tuyển sinh mềm dẻo theo nhu cầu thị trường lao động địa phương.
- Phát triển đội ngũ giảng viên/giáo viên đạt chuẩn, kết hợp nghệ nhân và chuyên gia doanh nghiệp.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thích ứng cơ chế địa phương và tuân thủ quy định Nhà nước.
- Tăng cường cơ sở vật chất, xưởng thực hành và huy động nguồn lực xã hội hóa.
Đi kèm là thiết kế Mô hình đào tạo chuyển tiếp và liên thông của trường CĐCĐ (Hình 3.1) và Cơ cấu tổ chức trường CĐCĐ (Hình 3.2).
- Nhóm giải pháp 2: Phát triển các chức năng CĐCĐ bên trong các trường ĐH địa phương thông qua việc áp dụng Mô hình đào tạo tự-liên thông (Hình 3.3).
Luận án tiến hành thử nghiệm giải pháp tại hai cơ sở:
- Thử nghiệm 1: Cải tiến cơ cấu bộ máy, cơ chế quản lý và phương hướng phát triển đào tạo tại trường CĐCĐ Bình Thuận theo hướng thực hiện một phần chức năng đào tạo đại học (Hình 3.4).
- Thử nghiệm 2: Phát huy chức năng CĐCĐ và áp dụng mô hình đào tạo tự-liên thông tại trường ĐH Phú Yên (Hình 3.5).
Kết quả thăm dò ý kiến chuyên gia và khảo sát thực tế tại hai cơ sở thử nghiệm đã khẳng định tính khả thi về mặt pháp lý và thực tiễn của các mô hình đề xuất.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tự tổng kết những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Làm sáng tỏ bản chất, triết lý và nội dung hoạt động của trường CĐCĐ trong mối tương quan với các loại hình trường cao đẳng khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Đúc kết các đặc trưng chung của mô hình CĐCĐ trên thế giới, từ đó xác lập luận cứ khoa học cho việc vận dụng mô hình này vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của các địa phương tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và chứng minh mô hình CĐCĐ là giải pháp thích hợp cho bài toán đào tạo NNL tại chỗ phục vụ CNH, HĐH và thúc đẩy tiến trình đại chúng hóa giáo dục đại học ở Việt Nam.
- Đóng góp hệ thống 7 giải pháp hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ ở Việt Nam với tư cách là một loại hình trường cao đẳng chính thức trong hệ thống GDQD.
- Xây dựng mô hình đào tạo chuyển tiếp và liên thông ở trường CĐCĐ.
- Đề xuất giải pháp phát triển chức năng CĐCĐ bên trong trường ĐH địa phương, đặc biệt là thiết lập mô hình đào tạo tự-liên thông (self-transfer) tại các trường ĐH địa phương.
Kiến nghị, đề xuất:
- Đề nghị Bộ GD&ĐT sớm ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động chính thức của trường CĐCĐ thay thế cho Quy chế tạm thời số 37/2000/QĐ-BGD&ĐT.
- Hoàn thiện cơ chế chính sách phân luồng sau THCS và THPT, xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho việc chuyển tiếp sinh viên tốt nghiệp chương trình khoa học cơ bản đại cương tại các trường CĐCĐ lên giai đoạn 2 của các trường đại học 4 năm.
- Cho phép các địa phương chuyển đổi các trường CĐSP dôi dư năng lực đào tạo giáo viên thành các trường CĐCĐ đa ngành hoặc sáp nhập nâng cấp thành trường ĐH địa phương thực hiện chức năng CĐCĐ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án (dựa trên các giới hạn nghiên cứu được tác giả xác định):
- Về phạm vi lý luận: Luận án tập trung tổng kết con đường hình thành, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý tổng thể, chưa đi sâu giải quyết quy trình quản lý quá trình đào tạo chi tiết và phương pháp giảng dạy cụ thể của từng môn học trong trường CĐCĐ.
- Về phạm vi thực tiễn: Dữ liệu khảo sát và thử nghiệm mới được thực hiện trên một số trường đại diện tại 3 miền (khảo sát tại 9 cơ sở đào tạo và thử nghiệm trực tiếp tại 2 cơ sở: CĐCĐ Bình Thuận và ĐH Phú Yên), chưa bao quát toàn bộ các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp trên cả nước.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu cơ chế tài chính chi tiết, chính sách phân bổ ngân sách địa phương và cơ chế tự chủ đối với trường CĐCĐ.
- Nghiên cứu sâu về quy trình kiểm định chất lượng chương trình đào tạo chuyển tiếp và cơ chế công nhận tín chỉ giữa hệ thống trường CĐCĐ với các trường đại học trọng điểm quốc gia.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo đối với nhiều đối tượng:
- Đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục và cơ quan quản lý (Bộ GD&ĐT, UBND các tỉnh/thành phố): Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch mạng lưới trường cao đẳng, đại học địa phương và hoạch định chính sách phân luồng NNL.
- Đối với cán bộ quản lý các trường CĐCĐ, CĐSP và ĐH địa phương: Cung cấp sơ đồ cơ cấu tổ chức mẫu, quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông và mô hình chuyển đổi trường CĐSP sang mô hình đa ngành.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử phát triển CĐCĐ thế giới, phương pháp mô hình hóa trong giáo dục và phương pháp nghiên cứu hệ thống giáo dục địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Câu 1: Trường Cao đẳng cộng đồng xuất hiện đầu tiên trên thế giới và ở Việt Nam vào thời điểm nào?
Trả lời: Trên thế giới, trường CĐCĐ xuất hiện sớm nhất là trường Joliet Junior College tại bang Illinois, Hoa Kỳ vào năm 1901. Tại Việt Nam, trường CĐCĐ xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam là Viện ĐH cộng đồng Tiền Giang (thành lập năm 1971 tại Mỹ Tho), tiếp theo là Viện ĐH cộng đồng duyên hải Nha Trang (năm 1972).
Câu 2: Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế, 9 trường Cao đẳng cộng đồng đầu tiên được thành lập tại Việt Nam là những trường nào?
Trả lời: Chín trường CĐCĐ đầu tiên được thành lập trong các năm 2001, 2002, 2003 gồm: CĐCĐ Hải Phòng, CĐCĐ Hà Tây, CĐCĐ Quảng Ngãi, CĐCĐ Bà Rịa - Vũng Tàu, CĐCĐ Tiền Giang, CĐCĐ Đồng Tháp, CĐCĐ Trà Vinh, CĐCĐ Vĩnh Long và CĐCĐ Kiên Giang.
Câu 3: Luận án nêu ra những luận điểm bảo vệ cốt lõi nào?
Trả lời: Luận án xác lập 3 luận điểm: (1) CĐCĐ là thực thể giáo dục mang tính đại chúng, là giải pháp phù hợp đào tạo NNL tại địa phương; (2) Áp dụng mô hình CĐCĐ giải quyết 5 vấn đề bất cập của giáo dục Việt Nam (liên thông đào tạo, mất cân đối giữa dạy chữ và dạy nghề, phân luồng học sinh, phát triển giáo dục cộng đồng, tháo gỡ bế tắc của các trường CĐSP địa phương); (3) Trường ĐH địa phương là một dạng nhà trường cộng đồng cấp ĐH bao hàm các chức năng của CĐCĐ, cần áp dụng mô hình đào tạo tự-liên thông.
Câu 4: Mô hình đào tạo tự-liên thông được luận án đề xuất áp dụng cho loại hình trường nào?
Trả lời: Mô hình đào tạo tự-liên thông (self-transfer) được luận án đề xuất áp dụng cho các Trường Đại học địa phương, cho phép tích hợp và liên thông mềm dẻo các chương trình đào tạo từ dạy nghề, trung cấp, cao đẳng lên bậc cử nhân ngay bên trong cùng một cơ sở giáo dục đại học của địa phương.
Câu 5: Luận án đã tiến hành thử nghiệm giải pháp tại những cơ sở đào tạo cụ thể nào?
Trả lời: Tác giả đã tiến hành thử nghiệm các nhóm giải pháp tại 2 cơ sở: (1) Thử nghiệm hoàn thiện cơ cấu bộ máy, cơ chế quản lý và đào tạo tại Trường CĐCĐ Bình Thuận; (2) Thử nghiệm phát huy chức năng CĐCĐ và áp dụng mô hình đào tạo tự-liên thông tại Trường ĐH Phú Yên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Huy Vị đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình trường Cao đẳng cộng đồng trên thế giới và phân tích thực trạng hệ thống CĐCĐ tại Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến năm 2008. Công trình đã chứng minh sự cần thiết và tính phù hợp của mô hình CĐCĐ trong việc đáp ứng nhu cầu nhân lực địa phương và thúc đẩy đại chúng hóa giáo dục đại học. Thông qua việc đề xuất hệ thống 7 giải pháp hoàn thiện trường CĐCĐ, mô hình liên thông chuyển tiếp và mô hình đào tạo tự-liên thông tại các trường đại học địa phương, luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý, quy hoạch mạng lưới giáo dục sau trung học tại Việt Nam.