Mở đầu là Theophraste, học trò của Aristotle. Ông đã đề xướng phương pháp phân loại và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật. Trong tác phẩm “Lịch sử tự nhiên của thực vật” và “Cơ sở thực vật” ông đã mô tả gần 500 loài cây và phân ra thành cây to, cây nhỡ, cây nhỏ, cây thân gỗ, cây sống trên cạn, cây sống dưới nước… Tiếp sau đó là Plinus, nhà bác học người La mã viết bộ “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả gần 1000 loài cây và cũng phân chia như Theophraste nhưng chú ý đến cây ăn quả và cây làm thuốc. Từ nhiều tài liệu thực tế từ thế kỉ XVI đến gần cuối thế kỉ XVIII, việc xây dựng các bảng phân loại đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của nghiên cứu thực vật.
Thời kì này đã xuất hiện nhiều bảng phân loại như: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Bảng phân loại của Caesalpine (1519-1603 + Tiếp theo là J. Ray (1628-1705) là người đầu tiên đưa ra khái niệm loài và đã mô tả 18000 loài thực vật trong “Lịch sử thực vật”. Sau Ray là J.de Tournefort (1656-1708) lấy tràng hoa là cơ sở cho phân loại, chia thực vật có hoa thành nhóm không cánh và nhóm có cánh hoa. Mãi đến Linaeus (1707-1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của thời kì phân loại nhân tạo.
Nói chung các nhà phân loại thực vật từ đầu cho tới Linaeus chỉ dựa vào một hay hai tính chất được lựa chọn tùy ý để phân loại thực vật nên chưa phản ánh được các nhóm tự nhiên của thực vật. Sau Linaeus các nhà thực vật đã không phân loại thực vật dựa trên một hay một vài tính chất được lựa chọn tùy ý, mà vào toàn bộ các đặc điểm chính của thực vật nên đã dần thiết lập được các nhóm tự nhiên của thực vật. Có thể kể đến một số hệ thống tự nhiên như: Hệ thống phân loại của Bernard Jussieu (1699-1777) và cháu ông là A.de Jussieu (1749-1836) đã sắp xếp thực vật theo trình tự từ thấp đến cao, xếp chúng vào các họ, giữa các họ đều có những dạng chuyển tiếp, phản ánh được mối quan hệ giữa các nhóm thực vật với nhau. de Jussieu đã chia thực vật thành thực vật không lá mầm (gồm Tảo, Nấm, Rêu, Dương xỉ) và thực vật có lá mầm (Tùng bách, thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm).
Người có công lớn trong giai đoạn này là O. de Candole (1778-1841), đã đưa số họ thực vật lên 161 họ. Ông đã phân loại và mô tả tất cả các loài cây có mạch đã biết trong bộ “Prodromus Systematic Naturaeis regni Vegetabilis”. Brown (1773-1858) là người đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ về tùng bách và tuế, do đó đã tách rời Hạt trần ra khỏi Hạt kín.
Vào giữa thế kỉ XIX là một giai đoạn bắt đầu của ý tưởng tiến hóa. Khi tác phẩm “Nguồn gốc các loài” của Darwin ra đời năm 1858 thì khoa học về sinh vật đã có những thay đổi lớn. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vào thế kỉ XX, với các thành tựu của các môn khoa học đã hỗ trợ nhiều cho các nghiên cứu về đa dạng thực vật, tạo cơ sở về dẫn liệu và phương pháp để xây dựng các bảng hệ thống tiến hóa. Cho tới nay có nhiều hệ thống phân loại khác nhau: ở Nga có hệ thống của Kuznetxov, Busch, Kursanov, Grossein, Takhtajan… Vì vậy phân loại học ngày nay vẫn còn nhiệm vụ tiếp tục giải quyết các vấn đề về nguồn gốc, quan hệ tiến hoá.
Đa dạng thực vật RNM trên thế giới RNM là nguồn tài nguyên vô cùng quí giá đối với toàn thể nhân loại, do đó mà nhiều nhà khoa học trên thế giới như Odum và Heald (1972), Saenger và Davie (1983) đã nhận định rằng năng suất sinh học của vùng cửa sông có rừng ngập mặn là cao hơn tất cả các hệ sinh thái tự nhiên khác. Hamilton và Snedaket (1984) cho rằng 90% các loài sinh vật biển sống ở vùng cửa sông có RNM trong suốt đời hoặc nhiều giai đoạn trong cả vòng đời của chúng.Chính vì những ý nghĩa ban đầu đó mà từ rất xa xưa các nhà khoa học đã quan tâm đến RNM và ý nghĩa của nó với nền kinh tế và khoa học. Người đầu tiên đề cập tới cây ngập mặn là Nearchus, một đô đốc của Alexanddeerr Đại đế cách đây hơn 2300 năm, khi ông đi tuần tra 5 tháng liền trên sông Indus và Euphrates (Java và Tan, 1986). Rollet (1981) đã thống kê được 5658 tài liệu có liên quan đến hệ sinh thái RNM từ trước năm 1600 đến tháng 12 năm 1975.
Ông cho rằng trước năm 1600 chỉ có 14 tài liệu về rừng ngập mặn trong đó có một tài liệu duy nhất ra đời vào năm 305 trước công nguyên, hai tài liệu được viết vào thế kỉ thứ 2 trước công nguyên của Plyni the Elder. Sau đó thì từ năm 23 – 79 sau công nguyên đề cập đến Avicennia, Rhizophora mangle, trong cuốn sách “ Traité des simples” vào thế kỷ 13 của Ibn-El-Bei-Thar cũng nói về việc sử dụng thuốc từ các cây Rhizophora, Avicennia. Từ những năm 1526 đến năm 1558 mỗi năm đều có một công bố. Từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 có 500 tài liệu về RNM, còn lại vào thế kỷ thứ 20 thì số tài liệu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là 5158, sau đó hai cuộc chiến tranh thế giới diễn và có rất ít các nghiên cứu về RNM.
Trong giai đoạn từ 1951 đến 1975 có 4200 – 4400 tác giả đã viết về các vấn đề liên quan đến RNM bằng 25 thứ tiếng khác nhau, trong đó tiếng Anh vẫn chiếm ưu thế nhiều nhất sau đó là tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha… Tính đến năm 1975, người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về RNM phải kể đến H.Molden-ker, ông chủ yếu tập trung phân loại chi Mắm (Avicennia) và tổng quan về chi này. Chapman, nhà sinh lý thực vật ở Papua New Guinea đã cho xuất bản cuốn “Mangrove vegetation” 447 trang, năm 1977 chủ biên tập Ecosystems of the World, vol.l-Wet coastal Ecosystes (428 trang). Sau này ông còn viết một số tài liệu khác và tham gia vào nhóm biên soạn cuốn “The Mangrove Ecosystems Researoh methods” do UNESCO yêu cầu. Cuối năm 1980 ông mất đột ngột và để lại một số công trình nghiên cứu còn chưa hoàn thiện.
Cho tới sau này khi E.Odum phát hiện ra tác dụng to lớn của mùn bã loài đước đỏ trong chuỗi dinh dưỡng vùng cửa sông, ven biển Florida (1970) thì ngay sau đó RNM càng trở thành một đối tượng được các nhà khoa học và nhiều nước trên thế giới tập trung nghiên cứu. Tuy nhiên từ giai đoạn 1978 - 1984 song song với việc nghiên cứu thì tình hình khai thác quá mức các tài nguyên RNM ở các nước diễn ra mạnh mẽ làm cho diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng, đất bị thoái hóa và gây ra nhiều hậu quả xấu về môi trường khiến cho các nhà khoa học lo ngại, một số tổ chức quốc tế đã được thành lập và để tham gia vào các công tác bảo tồn nguồn gen, nâng cao ý thức cộng đồng trong công tác bảo vệ RNM… Hiện nay các tổ chức quốc tế về bảo vệ RNM đã được hình thành ở mọi quốc gia, các nghiên cứu để hướng tới việc bảo tồn loài cũng được phát huy mạnh mẽ ở mọi quốc gia. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam 1. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam sẽ giúp chúng tôi có cơ sở vững chắc cho công trình nghiên cứu của mình.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu về phân loại thực vật cũng đã có từ rất sớm đặc biệt phải kể tới Tuệ Tĩnh, năm 1417 ông đã mô tả 579 loài cây làm thuốc. Thời Pháp thuộc, người Pháp đã đến Việt Nam nghiên cứu và để lại nhiều công trình như Loureiro vào năm 1772 mô tả gần 700 loài cây trong cuốn “ Flora cochichinensis”, năm 1879 Pierre xuất bản cuốn “ Flore forestière de cochinchine” gồm 800 loài cây gỗ khác nhau, sau này công trình lớn nhất phải kể tới là của H. Lecomte và một số nhà thực vật học người Pháp biên soạn, gồm 7 tập chính và sau đó lại bổ sung thêm bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, thống kê, đã mô tả các cây từ Dương xỉ đến Thực vật Hạt kín của toàn Đông Dương trong cuốn “Flore generale de I’indochine” sau này được Aubréville bổ sung dưới nhan đề “ Thực vật chí Lào, Campuchia và Việt Nam. Từ 1954 đến nay Phân loại học càng được chú ý với các cuốn “Thực vật chúng” (1963), “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập của Lê Khả Kế và những người khác ( 1971 – 1975) mô tả từng loài thực vật khá kỹ càng, “Cây cỏ miền nam Việt Nam” ( in kì nhì năm 1970 – 1972).
“Cây cỏ Việt Nam” gồm 3 quyển, 6 tập của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993). Trong các sách này, “Cây cỏ Việt Nam” là bộ mới nhất, cập nhật nhất về thực vật chí của Việt Nam. Từng loài trong tổng cộng khoảng 10.500 loài thực vật được mô tả các đặc tính sinh học một cách ngắn gọn, súc tích và có hình vẽ kèm theo tên. Năm 1993, Trần Đình Lý và tập thể cũng công bố cuốn “1900 loài cây có ích của Việt Nam”.
Năm 1996, “Tên cây gỗ rừng Việt Nam” là kết quả đóng góp của nhiều tác giả đã được chỉnh lý và dịch sang tiếng Anh. Cùng năm này, Võ Văn Chi công bố cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” và gần đây là cuốn “Từ điển thực vật thông dụng” (2003). Nguyễn Tiến Bân công bố cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật ở Việt Nam” (1997). Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999) công bố cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam”.
Đỗ Tất Lợi giới thiệu “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và các tài liệu do Viện dược liệu biên soạn như “Cây thuốc Việt Nam” (1990); “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”(1993); “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” (2004). Năm 1999 cuốn “ Những đặc điểm cơ bản của hệ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực vật Việt Nam” do tác giả Lê Trần Chấn đưa ra có thể được xem là một tổng hợp quan trọng về đặc điểm cở bản của hệ thực vật cũng như giá trị tài nguyên cho từng loài vốn đã được mô tả trong Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993).