Nghiên cứu đa dạng thành phần loài thuộc họ na annonaceae tại khu bảo tồn thiên nhiên pù hoạt nghệ an

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đa dạng thành phần loài thuộc họ na annonaceae tại khu bảo tồn thiên nhiên pù hoạt nghệ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. PHẦN 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Đặc điểm hình thái họ Na

1.2. Nghiên cứu phân loại họ Na trên Thế giới

1.3. Nghiên cứu phân loại họ Na ở Việt Nam

1.4. Các nghiên cứu về thực vật họ Na tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

2. PHẦN 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu chung

2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp xác định thành phần loài thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố thực vật thuộc họ Na

2.4.3. Xác định tác động đến thực vật thuộc họ Na tại khu vực nghiên cứu

2.4.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật thuộc họ Na

3. PHẦN 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, địa thế

3.1.3. Khí hậu thủy văn

3.1.4. Địa chất, thổ nhưỡng

3.2. Dân sinh kinh tế - xã hội

3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động

3.2.2. Các hoạt động kinh tế

3.2.3. Hạ tầng cơ sở

3.2.4. Đánh giá chung về điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần loài thực vật thuộc họ Na tại Khu BTTN Pù Hoạt

4.2. Đặc điểm phân bố thực vật thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt

4.2.1. Bản đồ phân bố thực vật thuộc họ Na tại KBTTN Pù Hoạt

4.2.2. Thau lĩnh - Alphonsea tonquinensis A.

4.2.3. Móng rồng hồng kông - Artabotrys hongkongensis Hance

4.2.4. Móng rồng vinh - Artabotrys vinhensis Ast.

4.2.5. Mao quả - Dasymaschalon rostratum Merr.

4.2.6. Hoa giẻ lông đen - Desmos cochinchinensis Lour.

4.2.7. Thau ả mai - Desmos pedunculosus (A.

4.2.8. Lãnh công cavaleri - Fissistigma aff.

4.2.9. Lãnh công nhiều lá bắc - Fissistigma bracteolatum Chatt.

4.2.10. Lãnh công tái - Fissistigma chloroneurum (Hand.

4.2.11. Lãnh công xám - Fissistigma glaucescens (Hance) Merr.

4.2.12. Lãnh công lá lớn - Fissistigma latifolium (Dun.

4.2.13. Lãnh công lông đen - Fissistigma maclurei Merr.

4.2.14. Cách thư oldham - Fissistigma oldhamii (Hemsl.

4.2.15. Lãnh công rợt - Fissistigma pallens (Fin.

4.2.16. Dời dời - Fissistigma polyanthoides (DC.

4.2.17. Bổ béo trắng - Fissistigma thorelii (Pierre ex Fin.

4.2.18. Lãnh công lông mượt - Fissistigma villosissimum Merr.

4.2.19. Bổ béo bân - Goniothalamus banii B.

4.2.20. Giác đế tam đảo - Goniothalamus takhtajanii Ban.

4.2.21. Giác đế miên - Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin.

4.2.22. Thiểu nhụy nhẵn - Meiogyne virgata (Blume) Miq.

4.2.23. Mại liễu - Miliusa balansae Fin.

4.2.24. Mạo đài maingay - Mitrephora maingayi Hook.

4.2.25. Quần đầu lau - Polyalthia lauii Merr.

4.2.26. Giền đỏ - Xylopia vielana Pierre

4.3. Đặc điểm rừng nơi loài thực vật thuộc họ Na phân bố tại KBTTN Pù Hoạt

4.3.1. Đặc điểm tầng cây gỗ

4.3.2. Đặc điểm tầng cây tái sinh

4.3.3. Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi

4.4. Nguyên nhân gây ra đe dọa đến thực vật họ Na (Annonaceae) tại khu vực nghiên cứu

4.4.1. Do con người

4.4.2. Do tự nhiên

4.5. Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn thực vật thuộc họ Na cho KBTTN Pù Hoạt

4.5.1. Bảo tồn tại chỗ

4.5.2. Bảo tồn chuyển chỗ

4.5.3. Giải pháp xã hội

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu đa dạng họ Na Annonaceae tại Pù Hoạt

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hoạt là một trong những trung tâm quan trọng về đa dạng sinh học của Việt Nam, thuộc vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận. Hệ thực vật tại đây mang đặc trưng của cả vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, tạo nên một hệ sinh thái phong phú. Trong đó, họ Na (Annonaceae) là một họ thực vật có thành phần loài đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc quần xã thực vật và có nhiều giá trị về khoa học cũng như tiềm năng kinh tế. Việc thực hiện một luận văn đa dạng thực vật chuyên sâu về họ này là cực kỳ cần thiết. Trước đây, các nghiên cứu ban đầu tại Pù Hoạt chỉ ghi nhận một số lượng hạn chế các loài thuộc họ Na. Danh lục năm 2013 chỉ liệt kê 8 loài thuộc 6 chi. Sự thiếu hụt dữ liệu này tạo ra một khoảng trống lớn trong hiểu biết về hệ thực vật Pù Hoạt, đặc biệt là với một họ thực vật nguyên thủy và có giá trị như Annonaceae. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm cung cấp một hệ thống dữ liệu toàn diện, cập nhật danh lục thực vật các loài họ Na, làm rõ đặc điểm phân bố và đánh giá tình trạng bảo tồn của chúng. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào kho tàng tri thức khoa học mà còn là cơ sở vững chắc để xây dựng các chiến lược công tác bảo tồn hiệu quả, bảo vệ nguồn gen quý hiếm và phát triển bền vững tài nguyên thực vật tại khu vực.

1.1. Tầm quan trọng của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận vào năm 2007, là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Đông Nam Á trên cạn. Pù Hoạt, với vai trò là một trong ba vùng lõi, chứa đựng giá trị đa dạng sinh học vượt trội với nhiều hệ sinh thái rừng đặc trưng. Khu vực này là nơi giao thoa của các luồng di cư thực vật từ phía Bắc xuống và từ Tây sang, tạo nên một quần thể thực vật độc đáo. Việc nghiên cứu các họ thực vật cụ thể như họ Na (Annonaceae) tại đây giúp làm sáng tỏ sự phong phú của nguồn gen, khám phá các loài đặc hữu và các loài có giá trị kinh tế, dược liệu, góp phần khẳng định vị thế khoa học của khu dự trữ sinh quyển này.

1.2. Giới thiệu về thực vật họ Na Annonaceae và giá trị khoa học

Họ Na (Annonaceae) là một họ lớn thuộc bộ Mộc lan (Magnoliales), được xem là một trong những dòng thực vật hạt kín tiến hóa sớm. Các loài trong họ này thường là cây gỗ, cây bụi hoặc dây leo gỗ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Về mặt khoa học, thực vật họ Na có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu tiến hóa thực vật. Nhiều chi loài trong họ này, như chi Na (Goniothalamus), có giá trị dược liệu cao, được sử dụng trong y học cổ truyền. Việc nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố các loài họ Na không chỉ làm giàu thêm tri thức thực vật học mà còn mở ra tiềm năng ứng dụng trong các lĩnh vực dược phẩm, nông nghiệp và bảo tồn.

II. Thách thức trong công tác bảo tồn các loài họ Na tại Pù Hoạt

Mặc dù sở hữu giá trị đa dạng sinh học cao, hệ thực vật Pù Hoạt nói chung và các loài thuộc họ Na (Annonaceae) nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Áp lực từ các hoạt động dân sinh kinh tế là một trong những nguyên nhân chính. Việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép đã làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của nhiều loài. Đặc biệt, các loài nguy cấp quý hiếm có giá trị dược liệu cao thường trở thành mục tiêu của hoạt động khai thác tận diệt, không có sự kiểm soát. Bên cạnh đó, các yếu tố tự nhiên như biến đổi khí hậu, cháy rừng và sạt lở đất cũng góp phần làm thay đổi cấu trúc quần xã thực vật và đe dọa sự tồn tại của các quần thể thực vật nhạy cảm. Công tác quản lý và công tác bảo tồn tại KBTTN Pù Hoạt cũng gặp nhiều khó khăn do địa hình hiểm trở, diện tích rộng lớn và nguồn lực còn hạn chế. Việc thiếu một cơ sở dữ liệu chi tiết về phân bố các loài họ Na khiến cho việc giám sát, đánh giá và xây dựng kế hoạch bảo tồn trở nên khó khăn và kém hiệu quả. Những thách thức này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Tác động từ con người đến hệ thực vật Pù Hoạt

Các hoạt động của con người là mối đe dọa lớn nhất đối với hệ thực vật Pù Hoạt. Nhu cầu về đất canh tác nông nghiệp dẫn đến tình trạng phá rừng làm nương rẫy. Việc khai thác gỗ trái phép, dù đã được kiểm soát, vẫn âm ỉ diễn ra, làm suy thoái các hệ sinh thái rừng. Hơn nữa, việc thu hái các loài cây dược liệu, trong đó có một số loài thuộc họ Na, một cách bừa bãi và không bền vững đã đẩy nhiều quần thể đến bờ vực suy giảm. Những tác động này không chỉ làm mất đi các cá thể thực vật mà còn phá vỡ cấu trúc rừng, thay đổi điều kiện vi khí hậu và làm mất môi trường sống của nhiều loài khác.

2.2. Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng phân bố các loài họ Na

Bên cạnh tác động của con người, các yếu tố tự nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân bố các loài họ Na. Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn và sự khác biệt về độ cao tạo ra các tiểu vùng khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau, từ đó quyết định sự phân bố của từng loài. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt và hạn hán kéo dài có thể gây chết hàng loạt, đặc biệt với các quần thể có vùng phân bố hẹp. Cháy rừng, dù là do tự nhiên hay con người, đều có sức tàn phá khủng khiếp, có thể xóa sổ hoàn toàn một số quần thể thực vật, bao gồm cả các loài thuộc họ Na, tại một khu vực nhất định.

III. Phương pháp xác định thành phần loài họ Na tại Pù Hoạt hiệu quả

Để có được kết quả chính xác và toàn diện về sự đa dạng của họ Na (Annonaceae) tại Pù Hoạt, một phương pháp nghiên cứu hệ thống đã được áp dụng. Nghiên cứu này kết hợp giữa kế thừa tài liệu và điều tra thực địa chuyên sâu. Giai đoạn đầu tiên là tổng hợp và phân tích các tài liệu đã công bố, bao gồm các luận văn đa dạng thực vật trước đây và danh lục của khu bảo tồn. Giai đoạn tiếp theo và quan trọng nhất là điều tra ngoại nghiệp. Phương pháp điều tra theo tuyến được ưu tiên sử dụng để bao quát một khu vực rộng lớn. Tổng cộng 59 tuyến điều tra với chiều dài 668.3 km đã được thiết lập, đi qua tất cả các trạng thái rừng và các đai độ cao khác nhau. Trên các tuyến, mọi cá thể thuộc họ Na đều được ghi nhận tọa độ GPS, chụp ảnh và thu thập mẫu vật. Song song đó, 15 ô tiêu chuẩn (OTC) với diện tích 500m² mỗi ô được lập tại các khu vực có mật độ cao các loài họ Na để nghiên cứu chi tiết về cấu trúc quần xã thực vật. Các mẫu vật sau khi thu thập được xử lý theo quy trình tiêu chuẩn, sau đó tiến hành định danh loài dựa trên các tài liệu chuyên khảo và so sánh với các mẫu chuẩn. Phương pháp này đảm bảo tính khoa học, hệ thống và cung cấp một bộ dữ liệu đáng tin cậy.

3.1. Kỹ thuật điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn OTC

Điều tra theo tuyến là phương pháp cốt lõi để xác định sự hiện diện và phân bố các loài họ Na trên một khu vực rộng. Các tuyến được vạch sẵn trên bản đồ, đảm bảo tính đại diện cho các dạng địa hình và thảm thực vật. Tại các điểm phát hiện loài mục tiêu, các ô tiêu chuẩn (OTC) được lập để thu thập dữ liệu định lượng. Trong mỗi OTC, tất cả các cây gỗ có đường kính D1.3 ≥ 6cm đều được đo đếm các chỉ tiêu lâm học. Dữ liệu từ các OTC giúp phân tích cấu trúc quần xã thực vật, mật độ, tổ thành loài và các mối quan hệ sinh thái, cung cấp cái nhìn sâu sắc về môi trường sống của các loài họ Na.

3.2. Quy trình thu thập mẫu và xây dựng khóa định loại họ Annonaceae

Việc định danh loài chính xác là yếu tố quyết định thành công của nghiên cứu. Mẫu vật của các loài nghi ngờ thuộc họ Na được thu thập đầy đủ các bộ phận như cành, lá, hoa, quả. Mỗi mẫu được ghi chép lý lịch chi tiết và xử lý thành tiêu bản khô. Quá trình giám định được thực hiện tại phòng thí nghiệm, sử dụng phương pháp hình thái so sánh và đối chiếu với các tài liệu chuyên ngành như "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ và các công trình của Nguyễn Tiến Bân. Dựa trên các đặc điểm hình thái đặc trưng, một khóa định loại họ Annonaceae sơ bộ cho khu vực Pù Hoạt cũng được xây dựng, giúp cho công tác nhận dạng và giám sát sau này được thuận tiện hơn.

IV. Kết quả nghiên cứu 25 loài họ Na được phát hiện tại Pù Hoạt

Kết quả từ nghiên cứu đã mang lại những phát hiện đột phá về đa dạng sinh học của họ Na (Annonaceae) tại KBTTN Pù Hoạt. Tổng cộng, đã ghi nhận được 25 loài thuộc 11 chi của họ Na. Con số này cao hơn đáng kể so với danh lục năm 2014 (chỉ ghi nhận 8 loài thuộc 6 chi). Nghiên cứu đã bổ sung 18 loài và 5 chi mới vào danh lục thực vật của Pù Hoạt, cho thấy sự phong phú chưa từng được biết đến trước đây của họ thực vật này. Trong số các loài được phát hiện, có nhiều loài có giá trị bảo tồn và tiềm năng kinh tế cao. Đáng chú ý nhất là việc phát hiện ra sự tồn tại của loài Giác đế tam đảo (Goniothalamus takhtajanii). Đây là một loài nguy cấp quý hiếm, được xếp hạng Rất nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Trước đây, loài này chỉ được ghi nhận phân bố tại Tam Đảo, việc tìm thấy nó tại Pù Hoạt đã mở rộng vùng phân bố đã biết và khẳng định giá trị bảo tồn toàn cầu của khu vực. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã lập bản đồ chi tiết về phân bố các loài họ Na, cho thấy chúng có mặt ở hầu hết các trạng thái rừng, từ rừng thứ sinh, ven suối đến rừng nguyên sinh trên núi cao, tập trung nhiều ở các khu vực Tri Lễ, Nậm Giải và Hạnh Dịch.

4.1. Cập nhật danh lục thực vật họ Na Annonaceae mới nhất

Nghiên cứu đã xác lập một danh lục thực vật họ Na mới và đầy đủ cho KBTTN Pù Hoạt. Danh lục này bao gồm 25 loài thuộc các chi như Alphonsea, Artabotrys, Dasymaschalon, Desmos, Fissistigma, Goniothalamus, Meiogyne, Miliusa, Mitrephora, PolyalthiaXylopia. So với danh sách cũ, nghiên cứu đã bổ sung thêm 5 chi mới là Artabotrys, Dasymaschalon, Meiogyne, Miliusa, Mitrephora và 18 loài mới. Việc cập nhật này là một đóng góp khoa học quan trọng, cung cấp dữ liệu nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn về sinh thái, di truyền và hóa thực vật của họ Na tại Việt Nam.

4.2. Phát hiện loài nguy cấp quý hiếm Giác đế tam đảo Goniothalamus takhtajanii

Phát hiện loài Giác đế tam đảo (Goniothalamus takhtajanii) là điểm nhấn quan trọng nhất của nghiên cứu. Loài này được xếp hạng CR trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN, có nguy cơ tuyệt chủng cực kỳ cao ngoài tự nhiên. Việc ghi nhận sự hiện diện của loài tại Pù Hoạt không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn đặt ra yêu cầu cấp bách về công tác bảo tồn. Cần phải có ngay các biện pháp khoanh vùng, bảo vệ nghiêm ngặt khu vực phân bố của loài, đồng thời tiến hành nghiên cứu nhân giống để bảo tồn nguồn gen quý giá này. Đây là một minh chứng rõ ràng cho giá trị bảo tồn của hệ thực vật Pù Hoạt.

V. Hướng dẫn các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học họ Na tối ưu

Dựa trên kết quả nghiên cứu về thành phần loài, hiện trạng phân bố và các mối đe dọa, một loạt các giải pháp bảo tồn đồng bộ được đề xuất nhằm bảo vệ hiệu quả các loài thuộc họ Na (Annonaceae) tại Pù Hoạt. Các giải pháp này tập trung vào hai hướng chính: bảo tồn tại chỗ (in-situ) và bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ), kết hợp với các giải pháp về quản lý và xã hội. Bảo tồn tại chỗ là ưu tiên hàng đầu, bao gồm việc tăng cường tuần tra, bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có mật độ cao các loài họ Na, đặc biệt là khu vực phân bố của loài nguy cấp quý hiếm Giác đế tam đảo. Cần xây dựng các bản đồ phân vùng bảo vệ chi tiết và áp dụng các biện pháp lâm sinh phù hợp để phục hồi hệ sinh thái. Bên cạnh đó, giải pháp bảo tồn chuyển chỗ cũng cần được triển khai song song. Việc thu thập hạt giống, xây dựng vườn thực vật và nghiên cứu các phương pháp nhân giống cho các loài quý hiếm sẽ tạo ra nguồn cây giống dự phòng, phục vụ công tác phục hồi rừng và giảm áp lực khai thác từ tự nhiên. Để các giải pháp này thành công, yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm là chìa khóa để giảm thiểu các tác động tiêu cực lên giá trị tài nguyên thực vật.

5.1. Triển khai công tác bảo tồn tại chỗ In situ hiệu quả

Công tác bảo tồn tại chỗ tập trung vào việc bảo vệ các loài ngay tại môi trường sống tự nhiên của chúng. Cần thiết lập các khu vực ưu tiên bảo tồn dựa trên bản đồ phân bố đã xây dựng, đặc biệt là các điểm nóng về đa dạng sinh học của họ Na. Các hoạt động tuần tra, kiểm soát cần được tăng cường để ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép. Đồng thời, cần triển khai các chương trình giám sát đa dạng sinh học định kỳ để theo dõi sự biến động của các quần thể, từ đó có những điều chỉnh kịp thời trong kế hoạch bảo tồn. Việc phục hồi các sinh cảnh bị suy thoái bằng chính các loài bản địa cũng là một phần quan trọng của chiến lược này.

5.2. Kế hoạch bảo tồn chuyển chỗ Ex situ và nhân giống loài quý hiếm

Bảo tồn chuyển chỗ là giải pháp bổ sung quan trọng, đặc biệt đối với các loài nguy cấp quý hiếm như Giác đế tam đảo. Kế hoạch này bao gồm việc thu thập và lưu giữ nguồn gen (hạt, mô) trong các ngân hàng gen. Đồng thời, cần thành lập một khu vườn sưu tập các loài họ Na bản địa của Pù Hoạt ngay tại trung tâm của khu bảo tồn. Vườn sưu tập này không chỉ có chức năng bảo tồn mà còn là nơi để nghiên cứu các đặc tính sinh học, sinh sản và phát triển các kỹ thuật nhân giống hiệu quả, phục vụ cho việc tái du nhập loài vào tự nhiên trong tương lai.

5.3. Nâng cao vai trò cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên thực vật

Không có giải pháp bảo tồn nào có thể thành công nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về giá trị tài nguyên thực vật và tầm quan trọng của công tác bảo tồn. Song song đó, cần xây dựng và hỗ trợ các mô hình kinh tế thay thế bền vững, như phát triển du lịch sinh thái, trồng cây dược liệu dưới tán rừng. Khi cuộc sống được đảm bảo, người dân sẽ trở thành những người bảo vệ rừng tích cực nhất, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học cho các thế hệ tương lai.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong quan hệ tƣơng tác giữa sinh vật với môi trƣờng. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng nhƣ: Cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nƣớc, là nơi cƣ trú của động, thực vật và cũng là nơi tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chăn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con ngƣời. Tuy nhiên, tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung diệng tích rừng đang bị thu hẹp dần dƣơi áp lực của sự phát triển kinh tế và bùng nổ dân số lên nguồn tài nguyên rừng làm những cây gỗ, cây thuốc có giá trị thƣơng mại hóa do vậy chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít giá trị hoặc chƣa đƣợc nghiên cứu cũng đang bị tàn phá nhƣờng chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dƣới tác động của tự nhiên do cháy rừng thì rừng tự nhiên Việt Nam đã và đang bị giảm sút nghiêm trọng cả về diện tích lẫn chất lƣợng.

Tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là một trong những khu bảo tồn có giá trị cao về đa dạng sinh học Việt Nam, thành phần động, thực vật đa dạng phong phú. Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đƣợc chuyển đổi từ Ban Quản lý Rừng phòng hộ Quế Phong theo Quyết định số 1109/QĐ-UBND, ngày 02/04/2013 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, với mục tiêu nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật đặc trƣng cho khu vực, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 180km. Sau khi thành lập đơn vị đã phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ tiến hành quy hoạch bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng và đƣợc UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 19/02/2014. Tại Quyết định 590/QĐ-UBND thì diện tích quản lý của Khu BTTN Pù Hoạt là 85.761,43ha, trong đó rừng đặc dụng 34.589,89 ha, rừng phòng hộ 51.171,54, là một trong 3 khu rừng đặc dụng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” đã đƣợc UNESCO công nhận ngày 20-9-2007, có giá trị đa 1 dạng sinh học cao chứa đựng nhiều hệ sinh thái, cảnh quan, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen cao.

Hệ thực vật của Pù Hoạt vừa mang tính chất nhiệt đới vừa mang tính chất ôn đới, với các kiểu rừng đặc trƣng theo từng đai cao: Ở đai thấp: Rừng rậm nhiệt đới thƣờng xanh, Rừng rậm nhiệt đới rụng lá, Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá ƣu thế họ Bằng lăng.000m: Rừng rậm nhiệt đới thƣờng xanh trên núi thấp, Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá trên núi thấp, Rừng rậm nhiệt đới rụng lá trên núi thấp.000m: Rừng rậm thƣờng xanh trên núi trung bình, Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá trên núi trung bình, Rừng rậm nhiệt đới rụng lá trên núi trung bình. Trong ngành thực vật Hạt kín, bộ Ngọc Lan là bộ tiến hóa thấp nhất, bao gồm những loài cây thân gỗ hay cây leo gỗ, thƣờng xanh, đôi khi rụng lá. Ở một số đại diện, trong gỗ chƣa có mạch thông hay nếu có thì các bản ngăn rất xiên và hình thang. Màng hạt phấn kiểu một rảnh nguyên thủy.

Tuy nhiên nó cũng là một bộ có nhiều loài có giá trị quý hiếm về bảo tồn và dƣợc liệu. Theo hệ thống phân loại của hệ thống APG IV, bộ Ngọc Lan trên Thế giới có 6 họ, ở Việt Nam bộ có 3 họ: Ngọc lan (Magnoliaceae), Na (Annonaceae) và Máu chó (Myristicaceae). Trong 3 họ thuộc bô Ngọc Lan thì họ Na (Annonaceae) là họ có thành phần loài đa dạng và phong phú, trƣớc thực trạng thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu và hiểu biết về đa dạng loài, đặc tính sinh thái, phân bố và tình trạng bảo tồn của họ Na (Annonaceae) tại Khu BTTN Pù Hoạt, gồm các loài có giá trị cả về mặt khoa học và giá trị về mặt kinh tế cũng nhƣ công tác bảo tồn loài. Đặc biệt trong những thập niên gần đây với mức độ phát triển khoa học, công nghiệp hóa và tăng trƣởng về dân số áp lực lên tài nguyên rừng đặc biệt những loài thực vật quý hiếm có giá trị làm dƣợc liệu làm thuốc ngày một mạnh mẽ, trong đó có các loài thuộc họ Na.

Chính vì vậy, trƣớc tình trạng xâm hại và tác động mạnh mẽ của nạn khai thác, buôn bán trái phép các loài thực vật quý hiếm, dẫn đến một số loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên, nên rất cần thiết có những 2 chƣơng trình điều tra, nghiên cứu chi tiết, tỷ mỷ về các loài thuộc họ Na (Annonaceae) để xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ về thành phần loài, đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh vật học và phân bố của loài, cũng nhƣ đánh giá ƣớc lƣợng về các loài quý hiếm quan trọng, đồng thời đánh giá những thách thức trong công tác bảo tồn tại Khu BTTN Pù Hoạt, từ đó có thể đƣa ra đƣợc biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển một cách có hiệu quả. Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài thuộc họ Na (Annonaceae) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An”. 3 PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Họ Na (còn gọi là họ Mãng cầu – Annonaceae Juss.) là một họ lớn có khoảng 135 chi và khoảng 2. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Trung tâm đa dạng nhất họ Na (Annonaceae) là vùng nhiệt đới Indo-Malaysia và nhiệt đới châu Mỹ. Chi có một vài chi phân bố khắp lục địa nhƣ: Xylopia đƣợc tìm thấy ở Trung và Nam Mỹ, châu Phi, Madagascar, châu Á và châu Úc. Họ Na (Annonaceae) hiện đã biết khoảng 34 chi và khoảng 900 loài ở châu Mỹ, 42 chi và 450 loài ở châu Phi và Madagascar, 51 chi và 950 loài ở châu Á và châu Úc. Đặc điểm hình thái họ Na Họ Na (Annonaceae) gặp tất cả các dạng thân chủ yếu, trừ cây thân cỏ và các dạng sống phụ hay ký sinh.

Thƣờng là cây thân gỗ: gỗ lớn hoặc gỗ nhỏ (Polyalthia, Miliusa, Xylopia, Dasymaschalon, Annona, Goniothalamus,…), thân bụi (Orophea, Mitrephora, Goniothalamus,…) và thân leo trƣờn (thƣờng ở các chi Fissstigma, Uvaria, Artabotrys, Desmos,…). Lá đơn nguyên, mọc cách, mép nguyên, chủ yếu là gân lông chim. Gân chính thƣờng nổi rõ mặt dƣới và thƣờng lõm ở mặt trên, nhƣng ở một số chi nhƣ Artabotrys, Cyathocalys,… gân thƣờng nổi rõ ở cả 2 mặt, không có lá kèm. Gân cấp II thƣờng rõ ở mặt dƣới, chúng có thể song song hoặc hình cung tới gần tận mép; cũng có nhiều khi gân bên rất mờ và trong trƣờng hợp đó chúng cùng gân cấp III tạo thành mạng lƣới nổi rõ ở mặt dƣới hoặc cả 2 mặt.

Ở một số chi nhƣ: Uvaria, Melodorum, Cyathostemma,. lá thƣờng có lông hình sao (khi non). Hoa ở họ Na (Annonaceae) thƣờng lƣỡng tính hoặc tạp tính, hiếm khi đơn tính (trừ chi – Pseuduvaria). Hoa mọc đơn độc hoặc thành các dạng cụm khác nhau, ở nách lá (có khi ở nách lá đã rụng), ở ngoài nách lá (thƣờng đối diện với lá), ở đỉnh cành hoặc hoa mọc trên thân cành già không lá.

Đây là đặc điểm phân biệt chi, nhƣng ở một số chi (Dasymaschalon, Desmos,.) hoa có thể vừa mọc ở nách lá, vừa mọc ở ngoài nách lá. Trục cụm hoa thƣờng không có hoặc rất ngắn. 4 Tuy nhiên, ở đại diện của một số chi lại khá phát triển nhƣ ở chi Artabotrys trục cụm hoa có dạng cong hình moc câu. Ngƣợc lại, luôn luôn có cuống hoa, thông thƣờng chúng thƣờng dài khoảng 1-5cm, nhƣng cũng có khi rất dài nhƣ loài Dasymaschalon filipes dài tới 30cm.

Hoa họ Na có công thức điển hình là K3+C3+3A∞G∞, nhƣng số lƣợng các thành phần của nó có thể thay đổi. Trong số các loài đã biết thì cánh hoa có thể tăng giảm về số lƣợng nhƣ chi Dasymaschalon hoàn toàn thiếu hẳn 3 cánh hoa vòng trong thì ở chúng công thức hoa trở thành K3C3. Trong họ Na (Annonaceae) co 2 kiểu nhị chính. Kiểu thứ nhất đƣợc gọi là “kiểu Uvarioia”; trong kiểu này, trung đới dày và vƣợt qua bao phấn để tạo thành mào trung đới.

Kiểu thứ 2 là “kiểu Miliusoid”, có trung đới mỏng và hẹp, khiến cho bao phấn lồi lên so với trung đới. Số lƣợng nhị thƣờng nhiều và bất định. Tuy nhiên, một số chi thƣờng nhị giảm đến ổn định nhƣ: Miliusa, Orophea, Mitrephora,… Bao phấn thƣờng hƣơng ra ngoài và không có vách ngăn, nhƣng ở Cyathostemma bao phấn hƣớng trong, còn ở chi Enicosanthellum, Goniothalamus và Xylopia bao phấn có vách ngăn ngang. Hạt phấn của các loài trong họ Na rất đa dạng, nhƣng chủ yếu là hình cầu, hình chữ nhật, hình elip; vỏ ngoài hạt phấn có thể lồi lõm, nhẵn hoặc có gai; kích thƣớc trung bình hoặc lớn từ 34-60µm, trong chi Goniothlamus hạt phấn lớn, cỡ 71- 140 × 60-90µm.

Hạt phấn không có lỗ hay có nhiều lỗ. Phần lớn các loài trong họ Na (Annonaceae) có bộ nhụy gồm các lá noãn rời. Mỗi lá noãn đƣợc chia thành bầu, vòi nhụy và núm nhụy. Sau khi thụ phấn mỗi lá noãn đƣợc tạo thành một phân quả riêng.

Nghiên cứu phân loại họ Na trên Thế giới Annonaceae là họ lớn nhất của bộ Magnoliales (cũng có tài liệu xếp họ Annonaceae thành một bộ riêng – bộ Annonales). Nếu nhƣ thời Linnaeus (1753) chỉ biết vai chục loài, thời Dunal (1817) – 103 loài, thời Alphonse de Candolle (1832) – 204 loài, thời Bentham & Hooker f. Takhtajan (1987), họ này có 130 chi và 2300 loài. Ngoài ra, hằng năm vẫn thƣờng xuyên bổ sung thêm cac taxon mới.

Cùng với số loài tăng lên, cũng đã có khá nhiều hệ thống phân loại dành cho họ Na. Có thể kể ra những vi dụ nhƣ các hệ thống của Bentham & Hooker (1862 – 1867), Baillon (1868), Hooker & Thomson (1872), King (1892, 1893), Boerlage (1899), Engler & Diels (1900), Hutchinson (1923, 1964), Sinclair (1955), Fries (1959), Walker (1971) và nhiều hệ thống khác. Trừ hệ thống cuối cùng, tất cả các tác giả nêu trên đều xây dựng hệ thống của mình trên cơ sở các đặc điểm hình thái của hoa và quả. Theo Boerlage, họ Na có 7 tông, trong đó các tông Melodoreae và Popowieae là mới, còn 5 tông khác giống với hệ thống của Benrham & Hooker.

Baillon chia họ Na thành 4 “serie”, thực tế có thể hiểu là 4 phân họ: Annoneae (gồm 5 tông – Uvariinae, Unoninae, Xylopiinae, Oxymitrinae, Rollininae), Miliuseae, Monodoroideae và Eupomatioideae.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ