Nghiên cứu đa dạng sinh học ba bộ côn trùng nước tại khu di tích Mỹ Sơn, Quảng Nam

Nghiên cứu đa dạng sinh học ba bộ côn trùng nước phù du tại khu di tích Mỹ Sơn, Quảng Nam, góp phần bảo tồn và phát triển sinh thái.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2017

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu về Phù du, Cánh úp và Cánh lông trên thế giới

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về Phù du trên thế giới

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về Cánh úp trên thế giới

1.1.3. Tình hình nghiên cứu về Cánh lông trên thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu về Phù du, Cánh úp và Cánh lông ở Việt Nam

1.2.1. Tình hình nghiên cứu về Phù du ở Việt Nam

1.2.2. Tình hình nghiên cứu về Cánh úp ở Việt Nam

1.2.3. Tình hình nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam

1.3. Các nghiên cứu về Phù du, Cánh úp, Cánh lông trong ứng dụng chỉ thị chất lượng môi trường nước

1.4. Một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội ở Khu di tích Mỹ Sơn

1.4.1. Đặc điểm tự nhiên

1.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Thời gian nghiên cứu

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

2.1.3. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

2.2.2. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

2.2.3. Chỉ số đa dạng sinh học, loài ưu thế và chỉ số tương đồng

2.2.4. Phương pháp sử dụng chỉ số sinh học EPT

2.2.5. Phương pháp phân nhóm chức năng dinh dưỡng. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần loài và đa dạng về loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại khu vực nghiên cứu

3.1.1. Thành phần loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại khu vực nghiên cứu

3.1.2. Đa dạng về loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại khu vực nghiên cứu

3.1.3. Phân bố của Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo tính chất dòng chảy

3.1.4. Phân bố của Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo dạng sinh cảnh

3.1.5. Thành phần loài Phù du, Cánh úp và Cánh lông theo dạng sinh cảnh

3.1.6. Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các dạng sinh cảnh

3.1.7. Đặc điểm phân nhóm chức năng dinh dưỡng các bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông tại các sinh cảnh

3.1.8. Đánh giá chất lượng nước dựa trên chỉ số sinh học EPT tại các sinh cảnh

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn

Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại khu di tích Mỹ Sơn là một lĩnh vực quan trọng trong sinh thái học. Khu vực này không chỉ nổi tiếng với các di tích văn hóa mà còn là nơi sinh sống của nhiều loài côn trùng nước. Đặc biệt, ba bộ côn trùng nước: Phù du (Ephemeroptera), Cánh úp (Plecoptera) và Cánh lông (Trichoptera) có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt. Việc nghiên cứu đa dạng sinh học của chúng giúp hiểu rõ hơn về hệ sinh thái và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng.

1.1. Đặc điểm sinh thái của khu di tích Mỹ Sơn

Khu di tích Mỹ Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hệ sinh thái phong phú. Nơi đây có nhiều suối nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của côn trùng nước. Đặc điểm địa hình và thảm thực vật cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài côn trùng nước.

1.2. Vai trò của côn trùng nước trong hệ sinh thái

Côn trùng nước đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn và là chỉ thị sinh học cho chất lượng nước. Chúng không chỉ là nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật khác mà còn giúp duy trì sự cân bằng sinh thái trong môi trường nước.

II. Thách thức trong nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các yếu tố như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự phát triển đô thị hóa đang ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài côn trùng nước. Việc thiếu thông tin và dữ liệu về các loài côn trùng nước cũng là một trở ngại lớn trong nghiên cứu.

2.1. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm nước từ các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp có thể làm giảm đa dạng sinh học của côn trùng nước. Các chất độc hại có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản của chúng, dẫn đến sự suy giảm số lượng loài.

2.2. Biến đổi khí hậu và tác động đến côn trùng nước

Biến đổi khí hậu gây ra sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa, ảnh hưởng đến môi trường sống của côn trùng nước. Sự thay đổi này có thể dẫn đến sự thay đổi trong phân bố và đa dạng của các loài côn trùng nước.

III. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn

Để nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn, các phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp dụng. Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp thu mẫu, phân tích mẫu và đánh giá chất lượng nước để xác định sự đa dạng và phân bố của các loài côn trùng nước.

3.1. Phương pháp thu mẫu côn trùng nước

Phương pháp thu mẫu côn trùng nước bao gồm việc sử dụng lưới và bẫy để bắt các loài côn trùng trong môi trường tự nhiên. Các mẫu thu được sẽ được phân tích để xác định thành phần loài và số lượng.

3.2. Phân tích chất lượng nước và chỉ số sinh học EPT

Chất lượng nước được đánh giá thông qua các chỉ số sinh học như EPT (Ephemeroptera, Plecoptera, Trichoptera). Chỉ số này giúp xác định mức độ ô nhiễm và tình trạng sức khỏe của hệ sinh thái nước.

IV. Kết quả nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng phong phú của ba bộ côn trùng nước tại khu vực Mỹ Sơn. Các loài côn trùng nước không chỉ đa dạng về số lượng mà còn phong phú về hình thái và sinh thái. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự phân bố của các loài côn trùng nước có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường như dòng chảy và cấu trúc đáy suối.

4.1. Thành phần loài côn trùng nước tại Mỹ Sơn

Nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều loài côn trùng nước thuộc ba bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông. Mỗi bộ có những đặc điểm riêng biệt và vai trò khác nhau trong hệ sinh thái.

4.2. Sự phân bố của côn trùng nước theo sinh cảnh

Sự phân bố của các loài côn trùng nước tại Mỹ Sơn cho thấy mối liên hệ với các dạng sinh cảnh khác nhau. Các loài côn trùng nước thường tập trung ở những khu vực có dòng chảy mạnh và cấu trúc đáy đa dạng.

V. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước

Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn không chỉ có giá trị khoa học mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách bảo tồn và quản lý tài nguyên nước, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

5.1. Bảo tồn và quản lý tài nguyên nước

Kết quả nghiên cứu có thể giúp các nhà quản lý xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả cho các loài côn trùng nước, từ đó bảo vệ sự đa dạng sinh học và chất lượng môi trường nước.

5.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường

Thông qua các hoạt động tuyên truyền và giáo dục, nghiên cứu có thể giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của côn trùng nước và bảo vệ môi trường sống của chúng.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước

Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước tại Mỹ Sơn đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu sinh thái học. Những kết quả đạt được không chỉ góp phần làm phong phú thêm kiến thức về côn trùng nước mà còn tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các loài côn trùng nước và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng.

6.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu về sự biến động của các loài côn trùng nước theo thời gian và không gian, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

6.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu đa dạng sinh học

Nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nước không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là Đặng Ngọc Thanh (1980), xác định khu hệ Phù du ở Bắc Việt Nam bao gồm 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau. Tuy 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên trong số này chỉ có 13 loài là được định tên đầy đủ, số còn lại chỉ ở mức độ giống. Trong nghiên cứu này đã mô tả hai loài cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang và Neopheieridae cuaraoensis Dang [7]. Năm 2002, ông và cs.

đã công bố danh lục gồm 56 loài thuộc 30 giống của Phù du. Trong đó, giống Baetis có 8 loài, giống Ephemerella có 6 loài [8]. Nguyễn Xuân Quýnh và cs. (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du.

Kết quả của công trình này là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu phân loại về Phù du cũng như việc sử dụng đối tượng này là sinh vật chỉ thị cho các thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam [5]. (2003) đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và 14 họ Phù du ở Việt Nam. Trong đó, có 23 loài đã được biết đến trong các nghiên cứu trước, 30 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam, 37 loài mới cho khoa học và 12 loài được dự đoán là loài mới cho Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện từ 1998-2002 ở 55 địa điểm thuộc 23 tỉnh, thành thuộc Việt Nam.

Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại chi tiết đến loài và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta [83]. Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về thành phần loài của Phù du được tiến hành ở nhiều khu vực khác nhau trên cả nước, đặc biệt là ở các khu vực Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên, khu Dự trữ sinh quyển Ở VQG Tam Đảo, Nguyễn Văn Vịnh (2004) đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ. Trong đó, có 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam cũng như VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc, bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra đặc điểm phân bố thành phần loài theo các đai độ cao khác nhau [14]; Ở VQG Ba Vì, Nguyễn Văn Vịnh (2005a) đã xác định được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ, trong đó, có một loài mới cho khoa học là Polyplocia orientalis. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã sử dụng phương pháp thống kê sinh học để đánh giá sự phân bố thành phần loài theo tính chất dòng chảy (nơi nước chảy và nơi nước đứng) [15].

12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở VQG Hoàng Liên được tiến hành với nhiều nghiên cứu khác nhau, Nguyễn Văn Vịnh (2005b) đã xác định được 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ. Kết quả đã công bố được 4 loài mới cho khoa học dựa vào các mẫu chuẩn thu được tại Sapa, đó là: Isca fasica; Rhoenanthus sapa; Afronurus meo; Iron longintibius. Đồng thời, xác định được 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật của Việt Nam [16]. Jung và cs.

(2008) đã xác định được 53 loài, 30 giống, 9 họ. So với nghiên cứu trước đó của Nguyễn Văn Vịnh, nghiên cứu này không thu được 02 họ (Prosopistomatidae và Neoephemeridae) và 01 giống [58]. Hàng loạt các nghiên cứu của Nguyen và Bae (2003a, 2003c, 2003d, 2004a, 2004b, 2004c, 2004d, 2004e, 2005, 2006a, 2006b, 2007a, 2007b, 2008b, 2013) về công bố các loài mới cho khoa học ở khu vực này đã được tiến hành [85-96]. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ được tiến hành ở hệ thống suối Mường Hoa mà chưa tiến hành ở các khu vực suối khác.

Cho đến nghiên cứu của của Nguyễn Văn Hiếu (2016) đã xác định được 78 loài, 43 giống, 13 họ thuộc bộ Phù du của hệ thống suối thuộc VQG Hoàng Liên, trong đó đã ghi nhận mới cho khu hệ động vật Việt Nam 20 loài (họ Baetidae: Acentrella lata, Baetis clivisus, Baetis gracilentus, Baetis inornatus, Baetis morrus, Baetis pseudofrequentus, Baetis pseudothermicus, Baetis tatuensis, Baetis terminus, Labiobaetis operosus, Labiobaetis borneoensis, Neobaetiella macani, Nigrobaetis gracientus, Nigrobaetis mundus, họ Ephemerellidae: Drunella ishiyamana và Teloganopsis oriens, họ Heptageniidae: Epeorus nguyenbaeorum, họ Leptophlebiidae: Thraulus macilentus, họ Siphluriscidae: Siphluriscus chinensis và họ Prosopitomatidae: Prosopistoma sinensis) và 24 loài ghi nhận mới cho VQG Hoàng Liên [3]. So với nhiều bộ côn trùng nước khác, bộ Phù du ở Việt Nam đã được nghiên cứu một cách có hệ thống với nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đồng thời đây cũng là bộ có khóa định loại ở giai đoạn ấu trùng tương đối hoàn thiện. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình nghiên cứu về Cánh úp ở Việt Nam Ở Việt Nam, chưa có nhiều những nghiên cứu về bộ Cánh úp.

Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cs. Nguyễn Văn Vịnh và cs. (2001) khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở VQG Tam Đảo đã tiến hành định loại các loài thuộc bộ Cánh úp. Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở VQG Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [95].

Cao Thị Kim Thu (2002) đã công bố dẫn liệu mô tả 50 loài thuộc 22 giống, 4 họ ở Việt Nam dựa trên những đặc điểm của cả hai giai đoạn trưởng thành và ấu trùng. Tác giả đã xây dựng khóa định loại cho cả côn trùng trưởng thành và thiếu trùng Cánh úp ở Việt Nam đồng thời cung cấp những miêu tả chi tiết về hình thái của thiếu trùng bộ Cánh úp. Công trình này là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sau này về bộ Cánh úp ở nước ta [33]. Cao Thị Kim Thu (2007, 2007a, 2007b, 2007c) đã công bố hàng loạt các loài mới cho Việt Nam, bao gồm, Neoperla sungi Cao & Bae, 2007; Neoperla tamdao Cao & Bae, 2007; Neoperla yentu Cao & Bae, 2007; Chinoperla rhododendrona Cao & Bae, 2007; Agnetina den Cao & Bae, 2007; Acroneuria bachma Cao & Bae, 2007 ; A.

magnifica Cao & Bae, 2007 [34-37]. Sivec và Stark (2010) đã công bố một số loài mới cho khu hệ Cánh úp Việt Nam với 7 loài được mô tả từ VQG Cát Tiên và VQG Yok Đon, 8 loài được mô tả ở hệ thống suối ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai [106, 107]. Từ các mẫu vật thu thập được và tham khảo các tài liệu đã công bố, Cao Thị Kim Thu (2011) đã tổng hợp được danh lục gồm 70 loài Cánh úp lớn thuộc 13 giống ở Việt Nam. Do đó, hiện nay đã có 48 loài mới cho khoa học được mô tả từ mẫu vật và có 55 loài mới chỉ thấy ở Việt Nam mà chưa ghi nhận ở một nơi nào trên thế giới [9].

Stark, Sivec và Shimizu (2012) đã ghi nhận 3 loài mới là Rhopalopsole azun (Gia Lai), R. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đây chỉ dừng lại ở giai đoạn trưởng thành của bộ Cánh úp. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Văn Hiếu và cs. (2015) đã công bố thành phần loài và phân bố của bộ Cánh úp ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai dựa trên mẫu vật thu thập từ năm 2012 đến năm 2013, kết hợp với các mẫu vật đã thu thập từ trước đến nay đang được lưu giữ tại Phòng Sinh thái môi trường nước, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và tại Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

Ngoài ra, tác giả còn kết hợp với các tài liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu để đưa ra dẫn liệu về thành phần loài Cánh úp. Kết quả đã ghi nhận được 58 loài, 21 giống, 5 họ thuộc bộ Cánh úp. Đây có thể coi là dẫn liệu đầy đủ và cập nhật nhất về thành phần loài bộ Cánh úp tại VQG Hoàng Liên [4]. Năm 2016, tác giả cũng đã công bố về thành phần loài Cánh úp tại VQG Hoàng Liên, đã có 27 loài thuộc 14 giống và 4 họ được ghi nhận [3].

đã ghi nhận 2 loài mới dựa trên mẫu Cánh úp trưởng thành ở Việt Nam gồm Nemoura kontumensis và Amphinemura konplongensis, mẫu vật thu đươc vùng núi cao thuộc tỉnh Kon Tum [50]. Tình hình nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913). Những nghiên cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam.

Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae. Banks (1931) và Mosely (1934) nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae. Oláh (1987 - 1989) mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae (dẫn theo Hoang D. May (1998) và Malicky (1994, 1995, 1998), mô tả các loài thuộc họ Hydropsychoidae, Phiolopotamoidae, Leptoceroidae, Sericostomatoidae, Limnephiloidae, Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacopphiloidae từ các mẫu vật thu được ở một số vùng của Việt Nam.

Malicky và Mey (2001), mô tả 2 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở miền Bắc Việt Nam. Schefter và Johanson (2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helicopsyche (dẫn theo Hoang D. (2005) trong nghiên cứu về khu hệ Cánh lông ở Việt Nam đã xác định được 198 loài (14 loài mới cho Việt Nam và 25 loài mới được ghi nhận) thuộc 58 giống và 24 họ. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra những mô tả chi tiết đến hình thái của ấu trùng Cánh lông ở Việt Nam [54].

Olash và Johanson (2010) đã công bố 14 loài mới được công bố thuộc giống Dipseudopsis, Hyalopsyche và Pseudoneureclipsis từ các mẫu vật thu được tại các tỉnh thành của Việt Nam [97]. Năm 2016, Nguyễn Văn Hiếu và cs. đã ghi nhận được 36 loài, 35 giống, 17 họ thuộc bộ Cánh lông, trong đó có 1 loài ghi nhận mới cho VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai [3]. Các nghiên cứu về Phù du, Cánh úp, Cánh lông trong ứng dụng chỉ thị chất lƣợng môi trƣờng nƣớc Các nghiên cứu về ba bộ Phù du, bộ Cánh úp và bộ Cánh lông khá đa dạng, bên cạnh những nghiên cứu về thành phần loài thì các nghiên cứu về mặt ứng dụng trong việc chỉ thị chất lượng môi trường nước cũng được quan tâm nghiên cứu trên toàn trên thế giới từ rất sớm [53, 99, 103].

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ba bộ Phù du, Cánh úp và Cánh lông còn khá ít, chủ yếu về các nghiên cứu thành phần loài chung của các bộ côn trùng nước hay những nghiên cứu riêng từng bộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ