MỞ ĐẦU Sự sống trên trái đất phụ thuộc vào tính đa dạng sinh học để duy trì những chức năng sinh thái, điều hoà nguồn nước, chế độ khí hậu, sự màu mỡ của đất đai và những nguồn tài nguyên có thể phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống của con người. Chúng ta phụ thuộc vào các loài thực vật, động vật trong tự nhiên để tìm ra những hợp chất hoá học mới có thể dùng làm thuốc chữa bệnh, kiểm soát sâu bọ, cải thiện được mùa màng và chăm sóc vật nuôi,. Ở nhiều khu vực trên trái đất, người dân hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào đa dạng sinh học. Vì vậy, đa dạng sinh học là tài sản cho hiện tại và tương lai của loài người cần phải được bảo vệ, quan tâm hơn bao giờ hết [10].
Từ lâu, Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, do vậy Việt Nam đã ký nhiều công ước quốc tế về vấn đề này. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/8/1998 về tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2005, Luật đa dạng sinh học được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực chính thức từ ngày 01/07/2009,…. Hương Sơn là một xã nằm ở phía Nam huyện Mỹ Đức - Hà Nội. Xã cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 62 km về phía Tây Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 4.282,73 ha, trong đó khoảng 40% là đất lâm nghiệp, 30% là sông suối, còn lại là đất nông nghiệp và dân cư.
Tại đây, có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang động, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa, trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa, đền thờ và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới với tất cả diện tích khoảng 6 km² [20], [21]. Với diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn (40%) và tính đa dạng sinh học cao.
Năm 1993, ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn được thành lập nhằm quản lý, bảo vệ, giữ gìn, phát triển bền vững hệ sinh thái rừng, danh lam thắng cảnh ở Hương Sơn. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học Để đánh giá đúng giá trị của quần thể di tích Hương Sơn, ngoài giá trị về tôn giáo và danh lam thắng cảnh đã được nhiều người biết đến, việc nghiên cứu đánh giá khu hệ động vật ở khu vực này là rất cần thiết, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, du lịch sinh thái của hệ sinh thái vùng núi Hương Sơn. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và triển khai đề tài “Nghiên cứu đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội” với mục tiêu: - Xây dựng danh lục thành phần các loài động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn (Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú). - Thống kê các loài động vật có xương sống trên cạn quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen.
- Phân tích giá trị và hiện trạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn. - Phân tích những yếu tố tác động tiêu cực của con người đến đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn và đề xuất các biện pháp bảo tồn. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Khái niệm đa dạng sinh học Theo định nghĩa của Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) thì “Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống” [10]. Theo công ước Đa dạng sinh học năm 1992 thì “Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)” [17].
Như thế, ĐDSH cần phải được xem xét ở ba mức độ. ĐDSH ở mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên trái đất từ các vi sinh vật đến các loài động vật, thực vật và nấm. Ở mức nhỏ hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH cũng bao gồm sự khác biệt trong các quần xã sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái trong đó các quần xã tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau [10], [17].
Xét cụ thể thì ĐDSH gồm: - Đa dạng Di truyền: là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài, những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể [10], [17]. - Đa dạng loài: là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê [10], [17]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học - Đa dạng hệ sinh thái: là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó có [10], [17]. Các mức độ của đa dạng sinh học [10], [17].
Đa dạng về loài Đa dạng về di truyền Đa dạng về hệ sinh thái Giới (Kingdoms) Quần thể (Populations) Khu sinh học (Biomes) Ngành (Phyla) Cá thể (Individuals) Vùng sinh học(Bioregions) Lớp (Class) Nhiễm sắc thể Cảnh quan (Landscapes) (Chromosomes) Bộ (Order) Gene Hệ sinh thái (Ecosystems) Họ (Families) Nucleotide Nơi ở (Habitats) Giống (Genera) Ổ sinh thái (Niches) Loài (Species) 1. Khu hệ động vật Khu hệ động vật là tất cả các loài động vật sống trong một vùng, một khu vực nào đó bao gồm loài bản địa và loài ngoại nhập. Khu phân bố của loài là đối tượng cơ bản của việc nghiên cứu khu hệ động vật [9]. Khu phân bố là diện tích hay là vùng sống của loài [9].
Định nghĩa này mới chỉ đề cập tới khu phân bố của taxon bậc loài, chưa đề cập tới taxon bậc cao hơn hay thấp hơn loài. Bogorat đã bổ sung và đưa ra định nghĩa tương đối rõ nét hơn: Khu phân bố là vùng sống của loài, chi hay của các đơn vị phân loại khác của động vật và thực vật [9]. Mỗi một loài động vật hay thực vật thường có một số lượng cá thể nhiều hay ít và chiếm cứ lấy một diện tích nhất định. Trong khu phân bố các cá thể của loài có thể 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học tìm được điều kiện sống thuận lợi nhất cho chúng.
Khu phân bố của loài là lãnh thổ có các cá thể của loài đó chiếm cứ. Diện tích đó được gọi là khu phân bố của loài. Khu phân bố của giống (chi) là lãnh thổ các cá thể của các giống (chi) đó chiếm cứ, sinh sống. Cũng giải thích như thế đối với những thang bậc taxon cao hơn: họ, bộ, lớp….
Như vậy, khi nâng thang bậc phân loại lên càng cao thì lãnh thổ khu phân bố của thang bậc phân loại đó càng được mở rộng ra so với khu phân bố của loài hay của thang bậc taxon thấp hơn [9]. Từ đó ta có thể định nghĩa khu phân bố như sau: Khu phân bố (area) là một vùng lãnh thổ, không gian hay vực nước của vỏ Quả đất trong đó loài hoặc nhóm loài nào đó sinh sống [9]. Tuy nhiên, có trường hợp nâng bậc phân loại lên nhưng vùng phân bố của taxon bậc cao không được mở rộng ra so với khu phân bố của taxon bậc thấp của loài [9]. Ví dụ : Trường hợp của loài thằn lằn đầu mỏ.
Bộ Rhynchocephalia có 3 họ trong đó chỉ còn 1 họ tồn tại đến ngày nay là họ Sphenodontidae. Họ này có nhiều giống nhưng chỉ còn 1 giống tồn tại đến nay là giống Sphenodon. Trong giống này có 3 loài nhưng chỉ còn 2 loài còn tồn tại là Sphenodon guntheri Buller, 1877 và Sphenodon punctatus (Gray, 1842) có số lượng rất ít, phân bố ở New Zealand. Vì vậy, khi nâng thang bậc phân loại của nhóm thằn lằn này từ loài lên giống, lên họ, lên bộ….
thì khu phân bố của các taxon bậc cao hơn loài cũng không thay đổi, nghĩa là không được mở rộng ra. Khu phân bố động vật không đổi khi nâng bậc phân loại được gọi là khu phân bố di lưu (relic area). Khu phân bố di lưu thường có diện tích nhỏ và là khu phân bố của những loài cổ xưa còn lưu lại đến ngày nay [9]. Khu phân bố của loài bao gồm các địa điểm cụ thể mà các cá thể của loài đó chiếm cứ sinh sống, là khái niệm cơ bản của khu hệ động vật.
Vì vậy, nghiên cứu khu hệ động vật cần phải có những hiểu biết về khu phân bố của các loài động vật. Có 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ khoa học hiểu biết về khu phân bố thì mới có thể có những nhận xét, kết luận về phân bố địa lý của loài hoặc của đơn vị phân loại nào đó [9]. Động vật hoang dã quý hiếm Là các loài động vật có giá trị kinh tế về nhiều mặt và giá trị về mặt khoa học cao, các loài đặc hữu, có vùng phân bố hẹp/hạn chế, các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia, khu vực và thế giới [40]. Mức độ đe dọa của các loài động vật được phân chia như sau: Danh lục đỏ thế giới IUCN, 2009 [40]: - Nguy cấp (Endangered - EN): Một loài hoặc nòi bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức rất nguy cấp.