Tổng quan nghiên cứu

Khu vực xã Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội sở hữu tổng diện tích đất tự nhiên là 4.282,73 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm khoảng 40% và diện tích sông suối, đầm lầy chiếm gần 30%. Đây là một vùng sinh thái núi đá vôi ngập nước karst nhiệt đới đặc thù, tiếp giáp giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ và chuỗi cao nguyên Tây Bắc. Tuy nhiên, áp lực khổng lồ từ hoạt động trảy hội tâm linh với hơn 1,2 triệu lượt du khách mỗi mùa lễ hội cùng các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang tạo ra những xung đột gay gắt đối với môi trường sống của các loài động vật hoang dã.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt các dữ liệu thực địa cập nhật và có hệ thống về cấu trúc quần xã động vật nhằm phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn vùng đệm và vùng lõi rừng đặc dụng. Đề tài hướng đến 4 mục tiêu cụ thể: lập danh lục phân loại các loài động vật có xương sống trên cạn gồm 4 lớp (Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú); thống kê và đánh giá hiện trạng các loài nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen; phân tích toàn diện giá trị và hiện trạng đa dạng sinh học gắn với các kiểu sinh cảnh; làm rõ tác động tiêu cực từ hoạt động nhân sinh để đề xuất giải pháp bảo vệ hệ sinh thái.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên toàn bộ địa bàn tự nhiên xã Hương Sơn trong khung thời gian từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu sinh thái chuẩn hóa cho Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn (thành lập từ năm 1993), hỗ trợ địa phương hoàn thiện chiến lược bảo tồn hơn 1.700 ha diện tích rừng tự nhiên gắn với phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng toàn diện khung lý thuyết đa dạng sinh học theo chuẩn mực của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Công ước Đa dạng sinh học năm 1992. Khung lý thuyết này tiếp cận sinh thái học theo 3 cấp độ cấu trúc: đa dạng loài (Species diversity - sự phong phú và phân bố của các taxon), đa dạng di truyền (Genetic diversity - sự biến dị nguồn gen trong và giữa các quần thể) và đa dạng hệ sinh thái (Ecosystem diversity - tập hợp các kiểu sinh cảnh và mối tương tác sinh học).

Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết Địa động vật học (Zoogeography) và thuyết Khu phân bố (Khu phân bố di lưu - Relic area) để luận giải sự tồn tại của các taxon cổ xưa trên các khối núi đá vôi cô lập. Bốn khái niệm chuyên ngành cốt lõi được định nghĩa và vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Khu hệ động vật (Fauna): Toàn bộ các loài bản địa và nhập nội cùng cư trú trong một không gian địa lý xác định.
  • Khu phân bố (Distribution area): Phạm vi không gian sinh cảnh mà cá thể của một taxon chiếm cứ để sinh sống và phát triển.
  • Sinh cảnh sống (Habitat): Tổ hợp các điều kiện lý hóa và sinh học đáp ứng chu trình sống của từng quần thể.
  • Động vật hoang dã quý hiếm: Các loài có giá trị khoa học, sinh thái và kinh tế cao, có phạm vi phân bố hẹp hoặc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng theo tiêu chuẩn Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ IUCN năm 2009 và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ kết quả khảo sát thực địa sơ cấp qua 3 đợt nghiên cứu: Đợt 1 (10/12 đến 21/12/2010), Đợt 2 (15/03 đến 27/03/2011 - giai đoạn cao điểm mùa lễ hội) và Đợt 3 (12/06 đến 19/06/2011 - giai đoạn sau lễ hội), kết hợp kế thừa có chọn lọc các báo cáo khoa học giai đoạn 1991–2010.

Cỡ mẫu và hệ thống quan trắc thực địa được thiết lập thông qua phương pháp điều tra theo tuyến với 3 tuyến khảo sát chính và 5 tuyến phụ trải rộng trên 8 kiểu hệ sinh thái đặc trưng:

  • Tuyến 1: Khu vực Suối Yến – Bến Thiên Trù tỏa đi 5 hướng phụ gồm Thung Khoai, Động Đại Binh, Thung Ao, Động Hương Tích và Thung Cây Hồng.
  • Tuyến 2: Tuyến Bến Yến Vỹ đi Đền Trình và Đền Thanh Sơn.
  • Tuyến 3: Tuyến Bến Phú Yên dọc Suối Tuyết Sơn lên Chùa Bảo Đài và Động Ngọc Long.

Phương pháp thu mẫu và bẫy bắt được thực hiện nhân đạo: dùng bẫy lồng kích thước 20x10x10 cm để bắt thú nhỏ gặm nhấm (đặt liên tục 4–5 ngày/tuyến); sử dụng lưới mờ bắt dơi kích thước từ 3x3 m đến 12x3 m giăng tại cửa hang trong 2 khung giờ kiếm ăn (17h30–23h00 và 4h00–5h00); dùng lưới mờ mistnet kích thước 3x12 m (mắt lưới 1,5x1,5 cm) để thu mẫu chim nhỏ; dùng vợt và bắt tay đối với bò sát và lưỡng cư. Tất cả các cá thể sau khi định loại hình thái đều được thả về môi trường tự nhiên.

Đề tài cũng tiến hành phỏng vấn sâu hơn 30 đối tượng am hiểu địa bàn gồm thợ săn, người đi rừng, kiểm lâm và sư trụ trì. Việc lựa chọn phương pháp phân loại hình thái so sánh theo các khóa định loại chuẩn quốc tế và trong nước giúp đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất trong việc định danh taxon và xử lý thống kê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa đã ghi nhận cấu trúc khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn với sự đa dạng vượt trội ở 4 lớp phân loại:

Lớp Lưỡng cư (Amphibia) có 29 loài thuộc 6 họ của 1 bộ không đuôi (Anura), chiếm 16,9% tổng số loài, 60% tổng số họ và 33,3% tổng số bộ lưỡng cư trên toàn quốc (so với 172 loài cả nước). Họ Ếch nhái (Ranidae) phong phú nhất với 13 loài (chiếm 44,83%), tiếp đến là Họ Nhái bầu (Microhylidae) với 6 loài (chiếm 20,69%) và Họ Ếch cây (Rhacophoridae) với 5 loài (chiếm 17,24%). Về sinh cảnh, đất nông nghiệp là nơi cư trú của 27 loài (chiếm 93,1%), đất ngập nước có 18 loài (chiếm 62,06%), khu dân cư có 14 loài (chiếm 44,8%) và trảng cây bụi có 5 loài (chiếm 17,2%).

Lớp Bò sát (Reptilia) thống kê được 54 loài thuộc 14 họ của 2 bộ (Bộ Có vảy Squamata và Bộ Rùa Testudinata), chiếm 11,04% số loài, 60,87% số họ và 66,67% số bộ bò sát toàn quốc (so với 489 loài cả nước). Họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế áp đảo với 21 loài (38,89%), Họ Tắc kè (Gekkonidae) và Họ Rắn hổ (Elapidae) mỗi họ có 5 loài (9,26%). Sinh cảnh trảng cây bụi, tre nứa tập trung nhiều nhất với 46 loài (85,2%), rừng núi đá vôi có 45 loài (83,3%), đất nông nghiệp có 32 loài (59,3%), đất ngập nước có 8 loài (14,8%) và khu dân cư có 6 loài (11,1%).

Lớp Chim (Aves) ghi nhận 158 loài thuộc 45 họ của 16 bộ, trong đó các họ như Khướu (Timaliidae), Chào mào (Pycnonotidae) và Đớp ruồi (Muscicapidae) có tỷ lệ bắt gặp cao nhất.

Về giá trị bảo tồn nguồn gen, đề tài phát hiện nhiều loài quý hiếm đang bị đe dọa nghiêm trọng có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP như Rắn hổ chúa (CR, Nhóm IB), Gà lôi trắng (Nhóm IB), Trăn đất (CR, Nhóm IIB), Kỳ đà hoa (EN, Nhóm IIB), Rắn hổ mang (EN, Nhóm IIB), Rùa núi vàng (EN, Nhóm IIB) và Ba ba gai (VU, Nhóm IIB).

Thảo luận kết quả

Tính đa dạng cao của khu hệ động vật có xương sống tại Hương Sơn bắt nguồn từ điều kiện địa chất karst lâu đời với hệ thống hang động ngầm chằng chịt, vi khí hậu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và thảm thực vật phân tầng phức tạp. Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận, mức độ đa dạng thành phần loài tại Hương Sơn cao hơn rõ rệt so với vùng hồ Quan Sơn thuộc huyện Mỹ Đức (chỉ có 16 loài lưỡng cư, 26 loài bò sát, 64 loài chim), nhưng thấp hơn Vườn quốc gia Xuân Sơn do diện tích rừng đặc dụng Hương Sơn nhỏ hơn và chịu sự phân mảnh mạnh bởi địa bàn dân cư.

Toàn bộ dữ liệu thành phần loài, tương quan taxon và mức độ phong phú đã được hệ thống hóa trực quan thông qua 16 bảng danh mục đối sánh và sơ đồ cấu trúc sinh cảnh. Các bảng số liệu phân tích rõ tỷ lệ % số loài của từng họ so với khu hệ toàn quốc, giúp người đọc dễ dàng nhận diện nhóm sinh vật chiếm ưu thế sinh thái.

Tuy nhiên, số lượng cá thể của các loài thú lớn và động vật quý hiếm đã sụt giảm nghiêm trọng so với các khảo sát năm 1991 và 2003. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động khai thác quá mức, tình trạng săn bắt phục vụ nhu cầu kinh doanh thịt thú rừng trong mùa lễ hội, tiếng ồn từ hoạt động giao thông đường thủy và ô nhiễm rác thải dọc Suối Yến.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi và phát triển bền vững khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, tăng cường thực thi pháp luật và kiểm soát buôn bán động vật hoang dã. Chi cục Kiểm lâm Hà Nội phối hợp với Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn và Công an huyện Mỹ Đức thành lập 4 chốt kiểm tra liên ngành cơ động. Mục tiêu xử lý triệt để 100% các điểm kinh doanh thịt thú rừng và tiêu bản thú nhồi bông trái phép tại các khu vực chùa Thiên Trù, động Hương Tích và bến đò Yến Vỹ trong khung thời gian 12 tháng.

Thứ hai, phục hồi sinh cảnh sống và hành lang đa dạng sinh học. Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn cùng Ban Quản lý Rừng đặc dụng tiến hành khoanh nuôi, trồng bổ sung 200 ha các loài cây bản địa như rau sắng, sấu, lát xoan và mơ Hương Tích trong giai đoạn 2012–2015. Biện pháp này giúp khôi phục thảm thực vật 4 tầng, tạo chuỗi thức ăn tự nhiên và hành lang di chuyển an toàn cho các loài chim, thú nhỏ và bò sát trên các dãy núi đá vôi.

Thứ ba, kiểm soát ô nhiễm môi trường và quản lý tiếng ồn trong mùa lễ hội. Ban Tổ chức Lễ hội Chùa Hương triển khai lắp đặt hệ thống 50 thùng rác chuyên dụng ven bờ và vận hành 3 thuyền thu gom rác tự động trên Suối Yến và Suối Tuyết Sơn. Mục tiêu giảm thiểu 80% rác thải nhựa trôi nổi và hạn chế tiếng ồn cơ học của các phương tiện thuyền máy trong suốt 3 tháng lễ hội đầu năm.

Thứ tư, nâng cao nhận thức cộng đồng và chuyển đổi mô hình kinh tế sinh thái. Phòng Kinh tế huyện Mỹ Đức và chính quyền địa phương tổ chức tối thiểu 10 khóa đào tạo/năm về bảo vệ nguồn gen động vật cho hơn 4.500 hộ gia đình. Đồng thời, chuyển đổi 400 ha đất trũng cấy lúa kém hiệu quả sang mô hình nông nghiệp sinh thái đa canh kết hợp cung cấp dịch vụ du lịch trải nghiệm có trách nhiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cán bộ quản lý khu bảo tồn, kiểm lâm và cơ quan quản lý môi trường: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về 29 loài lưỡng cư, 54 loài bò sát và 158 loài chim, giúp các nhà quản lý xây dựng kế hoạch tuần tra, phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và lập phương án cứu hộ động vật hoang dã vùng karst.
  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Sinh học, Sinh thái học: Luận văn cung cấp quy trình khảo sát thực địa chuẩn mực, các khóa định loại chuyên sâu và nguồn số liệu đối chiếu tin cậy về biến động khu hệ động vật có xương sống trên núi đá vôi qua các thời kỳ.
  3. Chuyên gia quy hoạch đô thị, du lịch và tài nguyên môi trường: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về việc cân bằng giữa bảo tồn cảnh quan di tích lịch sử tâm linh và giảm thiểu xung đột sinh thái trong quy hoạch tổng thể không gian du lịch bền vững.
  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và quỹ bảo tồn thiên nhiên: Là căn cứ khoa học xác đáng để xây dựng các đề xuất dự án tài trợ nhằm bảo tồn các loài nguy cấp như Rắn hổ chúa, Gà lôi trắng, Rùa núi vàng tại khu vực Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại Hương Sơn mang những đặc trưng sinh thái nổi bật nào?
Khu hệ động vật tại đây mang đặc trưng rõ nét của sinh thái núi đá vôi karst nhiệt đới với sự ưu thế của các loài thích nghi môi trường hang động, vách đá và vùng đất ngập nước. Cấu trúc quần xã thể hiện tính đa dạng cao về họ với 6 họ lưỡng cư và 14 họ bò sát, tạo nên sự phong phú về ổ sinh thái thích nghi.

Tại sao phần lớn các loài lưỡng cư tại Hương Sơn lại phân bố tập trung ở sinh cảnh đất nông nghiệp?
Khảo sát ghi nhận 27 trên tổng số 29 loài lưỡng cư (chiếm 93,1%) xuất hiện tại các thung lũng đất nông nghiệp. Nguyên nhân là các thung lũng này được bao bọc bởi núi đá vôi, giữ độ ẩm cao quanh năm, có hệ thống kênh mương tưới tiêu và nguồn thức ăn côn trùng dồi dào, tạo môi trường thuận lợi cho chu kỳ sinh sản và kiếm ăn.

Những loài động vật nào tại khu vực Hương Sơn hiện có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất?
Các loài đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao nhất gồm Rắn hổ chúa (xếp bậc CR theo Sách Đỏ, thuộc Nhóm IB Nghị định 32), Gà lôi trắng (Nhóm IB), Trăn đất (CR), Rùa núi vàng (EN, Nhóm IIB) và Ba ba gai (VU, Nhóm IIB). Đây là những loài có kích thước cơ thể lớn, giá trị thương mại cao và quần thể tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng.

Hoạt động du lịch lễ hội Chùa Hương tác động tiêu cực đến khu hệ động vật như thế nào?
Áp lực từ hơn 1,2 triệu du khách tập trung trong 3 tháng đầu năm tạo ra lượng rác thải lớn gây ô nhiễm thủy vực Suối Yến, tiếng ồn từ thuyền máy và dòng người làm xáo trộn tập tính sinh hoạt của các loài chim và dơi. Nghiêm trọng hơn, nhu cầu tiêu thụ đặc sản làm gia tăng các hành vi săn bắt, buôn bán động vật rừng trái phép.

Phương pháp bẫy bắt và điều tra trong nghiên cứu có gây tổn hại đến quần thể động vật tự nhiên không?
Nghiên cứu áp dụng triệt để phương pháp tiếp cận sinh thái học bảo tồn không xâm lấn. Toàn bộ bẫy lồng và lưới mờ đều được giám sát chặt chẽ theo khung giờ cố định; các mẫu vật sau khi đo đạc chỉ số sinh học và chụp ảnh định dạng đều được thả trở lại đúng sinh cảnh thu thập, đảm bảo không làm suy giảm số lượng cá thể trong tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập danh lục khoa học toàn diện về khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn với 29 loài lưỡng cư, 54 loài bò sát và 158 loài chim.
  • Khẳng định giá trị đa dạng sinh học vượt trội của vùng karst Hương Sơn khi chiếm 60% số họ lưỡng cư và 60,87% số họ bò sát so với cấu trúc phân loại toàn quốc.
  • Xác định hiện trạng phân bố và mức độ đe dọa của nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN cần được ưu tiên bảo tồn nguồn gen cấp bách.
  • Đánh giá toàn diện nguyên nhân sụt giảm quần thể động vật do tác động tổng hợp từ hoạt động lễ hội du lịch tâm linh và khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể gắn kết chặt chẽ giữa thực thi pháp luật, phục hồi sinh cảnh tự nhiên và chuyển đổi sinh kế cộng đồng bền vững.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp nguồn cứ liệu thực địa chuẩn xác, lấp đầy khoảng trống dữ liệu về động vật có xương sống vùng núi đá vôi phía Tây Nam Hà Nội. Để duy trì và phát huy các giá trị này, các cơ quan quản lý cần tiến hành chương trình giám sát sinh thái định kỳ 3 năm/lần trong giai đoạn tiếp theo. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách hãy tham khảo và ứng dụng ngay các khuyến nghị từ luận văn vào thực tiễn quản lý quy hoạch rừng đặc dụng Hương Sơn.