Luận văn thạc sĩ về đa dạng côn trùng nước tại lưu vực sông Mã, Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại suối thuộc lưu vực sông Mã, tỉnh Thanh Hóa, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hệ sinh thái.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam

1.3. Điều kiện tự nhiên, xã hội và đa dạng sinh học lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

1.3.2. Giá trị văn hóa - xã hội

1.3.3. Một số nghiên cứu về đa dạng sinh học lưu vực sông Mã

2. CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Đối tượng nghiên cứu

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3.3. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu

3.1.1. Thành phần loài của bộ Phù du (Ephemeroptera)

3.1.2. Thành phần loài của bộ Cánh lông (Trichoptera)

3.1.3. Thành phần loài của bộ Chuồn chuồn (Odonata)

3.1.4. Thành phần loài của bộ Cánh cứng (Coleoptera)

3.1.5. Thành phần loài của bộ Cánh nửa (Hemiptera)

3.1.6. Thành phần loài của bộ Hai cánh (Diptera)

3.1.7. Thành phần loài của bộ Cánh vảy (Lepidoptera)

3.1.8. Thành phần loài của bộ Cánh úp (Plecoptera)

3.1.9. Thành phần loài của bộ Cánh rộng (Megaloptera)

3.2. So sánh thành phần loài côn trùng nước giữa các điểm nghiên cứu

3.3. So sánh mật độ côn trùng nước giữa các điểm nghiên cứu. Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu

3.4. Loài Ưu thế và các chỉ số đa dạng

3.5. Các nhóm dinh dưỡng chức năng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại sông Mã

Nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại sông Mã là một lĩnh vực quan trọng trong sinh học và sinh thái học. Sông Mã, với hệ sinh thái phong phú, là nơi sinh sống của nhiều loài côn trùng nước. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học mà còn cung cấp thông tin quý giá về tình trạng môi trường nước. Côn trùng nước đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn và là chỉ thị cho chất lượng nước. Do đó, việc xác định thành phần loài côn trùng nước tại đây là cần thiết.

1.1. Đặc điểm sinh thái của sông Mã và côn trùng nước

Sông Mã chảy qua nhiều vùng địa lý khác nhau, tạo ra các môi trường sống đa dạng cho côn trùng nước. Các yếu tố như độ pH, nhiệt độ và dòng chảy ảnh hưởng đến sự phân bố và đa dạng của các loài côn trùng nước. Nghiên cứu cho thấy rằng côn trùng nước thường tập trung ở những khu vực có nước sạch và trong, nơi có nhiều thức ăn và nơi trú ẩn.

1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về côn trùng nước đã được thực hiện từ lâu, nhưng chủ yếu tập trung vào các khu bảo tồn và vườn quốc gia. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng côn trùng nước tại sông Mã có sự đa dạng cao, nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu rõ về các loài và vai trò của chúng trong hệ sinh thái.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu côn trùng nước

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về côn trùng nước, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định và phân loại các loài. Một trong những vấn đề lớn là sự biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống còn của các loài côn trùng nước. Việc thiếu dữ liệu và thông tin về các loài côn trùng nước tại sông Mã cũng là một thách thức lớn.

2.1. Ảnh hưởng của ô nhiễm đến côn trùng nước

Ô nhiễm nước từ các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp đã làm giảm chất lượng môi trường sống của côn trùng nước. Nhiều loài côn trùng nhạy cảm với ô nhiễm, dẫn đến sự suy giảm quần thể và đa dạng sinh học. Nghiên cứu cho thấy rằng các chỉ số đa dạng sinh học như chỉ số Shannon – Weiner có thể giảm đáng kể trong các khu vực ô nhiễm.

2.2. Thiếu dữ liệu về côn trùng nước tại sông Mã

Mặc dù sông Mã có sự đa dạng sinh học cao, nhưng dữ liệu về côn trùng nước tại đây còn hạn chế. Việc thiếu thông tin về các loài và quần thể côn trùng nước gây khó khăn trong việc đánh giá tình trạng môi trường và xây dựng các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu côn trùng nước tại sông Mã

Để nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại sông Mã, các phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu được áp dụng. Việc thu mẫu côn trùng nước thường được thực hiện tại nhiều điểm khác nhau trong khu vực nghiên cứu. Các mẫu được phân loại và xác định loài dựa trên các đặc điểm hình thái và sinh học.

3.1. Phương pháp thu mẫu côn trùng nước

Các phương pháp thu mẫu như lưới, bẫy và thu thập thủ công được sử dụng để đảm bảo tính đại diện của mẫu. Mỗi điểm thu mẫu được chọn dựa trên các yếu tố sinh thái như độ sâu, dòng chảy và loại đáy. Việc thu mẫu được thực hiện vào các thời điểm khác nhau trong năm để nắm bắt sự biến động của quần thể côn trùng.

3.2. Phân tích và xử lý số liệu

Sau khi thu mẫu, các mẫu côn trùng nước được phân loại theo các bộ và họ. Số liệu được xử lý bằng các phần mềm thống kê để tính toán các chỉ số đa dạng sinh học và so sánh giữa các điểm nghiên cứu. Việc phân tích này giúp xác định các loài ưu thế và đánh giá tình trạng sức khỏe của hệ sinh thái.

IV. Kết quả nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại sông Mã

Kết quả nghiên cứu cho thấy sông Mã có sự đa dạng cao về côn trùng nước với nhiều loài thuộc các bộ khác nhau. Các chỉ số đa dạng sinh học cho thấy sự phong phú và mật độ côn trùng nước tại các điểm nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số loài côn trùng nước có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và có thể được sử dụng làm chỉ thị cho chất lượng nước.

4.1. Thành phần loài côn trùng nước tại sông Mã

Nghiên cứu đã xác định được nhiều loài côn trùng nước thuộc các bộ như Ephemeroptera, Odonata, và Trichoptera. Mỗi bộ có sự đa dạng riêng, với nhiều loài có giá trị sinh thái cao. Việc phân loại và xác định các loài này là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về hệ sinh thái tại sông Mã.

4.2. Chỉ số đa dạng sinh học tại các điểm nghiên cứu

Các chỉ số đa dạng sinh học như chỉ số Shannon – Weiner và chỉ số Simpson được tính toán để đánh giá sự phong phú và đồng đều của các loài côn trùng nước. Kết quả cho thấy rằng các điểm nghiên cứu có sự khác biệt rõ rệt về đa dạng sinh học, phản ánh tình trạng môi trường tại từng khu vực.

V. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu côn trùng nước

Nghiên cứu đa dạng côn trùng nước tại sông Mã không chỉ có giá trị khoa học mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các biện pháp bảo tồn và quản lý tài nguyên nước. Ngoài ra, côn trùng nước cũng có thể được sử dụng làm chỉ thị cho chất lượng nước trong các chương trình giám sát môi trường.

5.1. Bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng nước

Việc bảo tồn côn trùng nước là rất quan trọng để duy trì sự cân bằng sinh thái. Các biện pháp bảo tồn có thể bao gồm việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên và giảm thiểu ô nhiễm. Nghiên cứu cũng đề xuất các khu vực cần được bảo tồn để bảo vệ các loài côn trùng nước quý hiếm.

5.2. Sử dụng côn trùng nước làm chỉ thị chất lượng nước

Côn trùng nước có thể được sử dụng như một công cụ để đánh giá chất lượng nước. Các loài nhạy cảm với ô nhiễm có thể chỉ ra sự suy giảm chất lượng nước, từ đó giúp các nhà quản lý môi trường đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu côn trùng nước tại sông Mã

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng sông Mã có sự đa dạng cao về côn trùng nước, nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu rõ hơn về các loài và vai trò của chúng trong hệ sinh thái. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai có thể bao gồm việc mở rộng phạm vi nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới trong việc phân tích và theo dõi côn trùng nước.

6.1. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc theo dõi sự biến động của quần thể côn trùng nước theo thời gian và không gian. Việc áp dụng công nghệ sinh học và phân tích gen có thể giúp xác định các loài mới và hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các loài trong hệ sinh thái.

6.2. Tầm quan trọng của bảo tồn côn trùng nước

Bảo tồn côn trùng nước không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn có giá trị kinh tế và văn hóa. Việc duy trì sự đa dạng sinh học côn trùng nước sẽ góp phần bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững cho cộng đồng.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Côn trùng nƣớc là những loài côn trùng sống trong nƣớc hoặc có một giai đoạn sống trong nƣớc trong vòng đời của chúng. Chúng chiếm số lƣợng loài cũng nhƣ số lƣợng cá thể mỗi loài khá lớn trong môi trƣờng nƣớc, các loài côn trùng nƣớc thích nghi với các dạng thủy vực nƣớc chảy và nƣớc đứng. Với các đặc điểm đó nên trong môi trƣờng nƣớc tự nhiên chúng giữ một vai trò là các mắt xích trong chuỗi và lƣới thức ăn, nhiều loài côn trùng nƣớc nhạy cảm với các biến đổi của môi trƣờng nƣớc, chúng sống trong môi trƣờng nƣớc sạch nên từ lâu côn trùng nƣớc đã đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng nhƣ là những sinh vật chỉ thị cho môi trƣờng nƣớc. Việt Nam nằm trong đới khí hậu nóng ẩm và có hệ thống sông suối dày đặc, có số lƣợng côn trùng nƣớc phong phú nên thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc, tuy nhiên các nghiên cứu hầu hết chỉ tập trung chủ yếu ở các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia.

Sông Mã là một trong những con sông lớn ở Việt Nam lƣu vực sông có nhiều suối, cùng với hệ động động vật và thực vật phong phú nên đã đƣợc các nhà khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu và xây dựng thành khu bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên chƣa có nhiều nghiên cứu về côn trùng nƣớc ở khu vực này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng côn trùng nƣớc ở một số suối thuộc lƣu vực sông Mã, tỉnh Thanh Hóa”, nhằm mục đích: - Xác định thành phần loài côn trùng nƣớc tại một số suối trên lƣu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa. - Đánh giá một số đặc điểm quần xã côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc trên thế giới Từ những đặc điểm của côn trùng nƣớc nhƣ: sự đa dạng về loài, hình thái cấu tạo, thích nghi với các điều kiện khác nhau của môi trƣờng nƣớc, nhạy cảm với sự biến đổi của hệ sinh thái và có ảnh hƣởng đến đời sống của con ngƣời nên côn trùng nƣớc đã sớm đƣợc quan tâm nghiên cứu ở nhiều nƣớc trên thế giới đặc biệt là các nƣớc phát triển. Đến nay côn trùng nƣớc đƣợc xác định có 9 bộ thƣờng gặp là Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh lông (Tricoptera), Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera) và Cánh vảy (Lepidoptera). Những nghiên cứu về côn trùng thƣờng tập trung vào việc định loại, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nƣớc nhƣ: McCafferty (1983) [47], Merritt và Cummins (1996) [48],…Các nghiên cứu này đã đƣa ra khóa định loại tới giống, thậm chí tới loài côn trùng nƣớc dựa vào đặc điểm hình thái giai đoạn trƣởng thành và giai đoạn ấu trùng. Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến một số ứng dụng của chúng trong sinh thái học.

Bên cạnh việc nghiên cứu về phân loại học, các nhà nghiên cứu cũng tập trung vào việc nghiên cứu sự biến động của quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dƣỡng, đáp ứng yêu cầu sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984) [68], (Cummins, 1996) [48]. Từ việc nghiên cứu sự biến động quần thể côn trùng các ứng dụng mới đƣợc ra đời nhƣ việc sử dụng côn trùng nƣớc làm sinh vật chỉ thị chất lƣợng nƣớc đƣợc áp dụng trên khắp thế giới từ châu Âu đến châu Á, một số tác giả trong lĩnh vực này nhƣ: Wilhm và Dorris (1968) [87], Morse, Yang, và Tian (1994) [52], Subramanian và Sivaramakrishnan (2007) [78]. Ngoài các nghiên cứu riêng rẽ về từng bộ côn trùng nƣớc các nghiên cứu về quần xã côn trùng nƣớc tại các khu vực nghiên cứu hiện nay đặc biệt đƣợc chú ý, sự có mặt của các nhóm côn trùng nƣớc tại các địa điểm nghiên cứu có thể cung cấp nhiều thông tin về sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu nhƣ đặc điểm nguồn dinh 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dƣỡng, đặc điểm về độ chiếu sáng cũng nhƣ môi trƣờng nền đáy. Ngoài ra ta còn xác định các chỉ số đa dạng sinh học nhƣ chỉ số Shannon – Weiner của quần xã côn trùng nƣớc tại các khu vực nghiên cứu, so sánh sự đa dạng của chúng ở các vị trí nghiên cứu đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn, hoặc giữa các điểm khác nhau trong khu vực nghiên cứu, các chỉ số đa dạng này đƣợc ứng dụng trong việc chỉ thị chất lƣợng nƣớc tại khu vực đƣợc nghiên cứu.

Ở Pháp và một số khu vực ở Châu Âu, nghiên cứu của Mi - Young Song, Fabien Leprieur và cộng sự (2008) [49] bằng việc đánh giá các chỉ số liên quan đến 4 bộ côn trùng nƣớc (Ephemeroptera, Plecoptera,Trichoptera, và Coleoptera (EPTC)) cho thấy rằng các suối ở khu nông nghiệp có độ đa dạng về loài cũng nhƣ mật độ thấp hơn so với các suối trong rừng. Các nghiên cứu về đa dạng côn trùng nƣớc và ứng dụng trong chỉ thị chất lƣợng nƣớc đƣợc nghiên cứu ở rất nhiều nƣớc trên thế giới, các nghiên cứu này đều tập trung vào việc định loại côn trùng thuộc 9 bộ côn trùng nƣớc qua đó xác định các chỉ số đa dạng sinh học tại các khu vực đƣợc nghiên cứu. Ở Châu Á nghiên cứu đƣợc thực hiện rất nhiều ở Ấn Độ có thể kể đến các nghiên cứu của các tác giả Jenila, RadhaKrishnan Nair (2013) [40], Rajnish Kumar Sharma and Nirupma Agrawal (2012) [67], Sarmistha Jana và cộng sự (2009) [71]. Các tác giả ở Trung Quốc nhƣ Chorng Bin Hsu, Ping - Shih Yang (2005) [27], Yang Lian Fang và cộng sự (1992) [89], ở Malaysia có thể kể đến tác giả Mohd Rasdi và cộng sự (2010) [50], ở Việt Nam các nghiên cứu về đa dạng quần xã côn trùng nƣớc đƣợc nghiên cứu chủ yếu bởi Nguyen và cộng sự [54, 62, 70, 70].

Việc sử dụng các chỉ số sinh học trong đánh giá chất lƣợng nƣớc ngày càng trở nên phổ biến, trong số hơn 50 chỉ số sinh học thì có 4 chỉ số liên quan đến côn trùng nƣớc đó là: chỉ số phong phú loài (Taxa (Species) Richness), chỉ số phong phú EPT (EPT Richness (Ephemeroptera, Plecoptera, and Trichoptera)), chỉ số sinh học Hilsenhoff (Hilsenhoff Biotic Index), mô hình phần trăm tƣơng đồng (Percent Model Affinity (PMA)) [45]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera) Bộ Phù du (Ephemeroptera) là bộ côn trùng có cánh nguyên thủy và cổ xƣa nhất trong số các nhóm côn trùng còn tồn tại đến giờ. Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã tồn tại vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm (Edmund, 1982) [31]. Phù du phân bố rộng khắp trên thế giới, giai đoạn ấu trùng của chúng có mặt ở hầu hết các thủy vực nƣớc ngọt nhƣ: ao, sông, suối, đầm lầy đến những vùng nƣớc nông của hồ, chúng thƣờng tập chung ở những chỗ nƣớc chảy.

Giai đoạn trƣởng thành của Phù du sống trên cạn từ 1-2 ngày. Các loài thuộc bộ Phù du đƣợc mô tả từ rất sớm. Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758). Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera (dẫn theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54].

Đến năm 2008, trên thế giới đã phát hiện đƣợc hơn 3000 loài thuộc hơn 400 giống của 42 họ thuộc bộ Phù du [36]. Trong hai thế kỷ XIX, và XX các nghiên cứu về Phu du phát triển mạnh mẽ rất nhiều các công trình nghiên cứu đƣợc công bố hàng loạt điển hình nhƣ: Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892), Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935). Các nghiên cứu đã cung cấp những kiến thức cơ bản về Phù du nhƣ: mô tả các đặc điểm về mặt hình thái của cả giai đoạn ấu trùng và trƣởng thành, qua đó việc xây dựng khóa định loại đến các họ và giống của bộ Phù du trở nên dễ dàng (dẫn theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54]. Đến năm 1979 McCafferty và Edmunds tiếp tục hoàn thiện khóa phân loại và bổ sung những dẫn liệu về Phù du phù hợp với thực tiễn nghiên cứu.

Trong một nghiên cứu gần đây Ogden và Whiting (2005) [63] đã tổng hợp những nghiên cứu về phân loại học của McCafferty và Edmunds đồng thời đƣa ra 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giả thuyết mới về nguồn gốc phát sinh của Phù du dựa trên những nghiên cứu về sinh học phân tử. Ở châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du đƣợc thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến từ châu Âu nhƣ: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) (dẫn theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54]. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, những báo cáo về Phù du chủ yếu quan tâm tới những vấn đề sinh thái học của ấu trùng Phù du trong hệ sinh thái nƣớc ngọt và các khóa phân loại (Gose, 1979-1980, 1985; Uesno, 1980; Yoon và Bae, 1988; Yoon, 1995) (dẫn theo Bae, 1997) [20]. Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về Phù du đầu tiên là Ueno (1931, 1969) và Ulmer (1939).

Các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Thái Lan cũng đã công bố khá nhiều công trình nghiên cứu về Phù du trong thời gian gần đây (Nguyen, 2003, Nguyen và Bae, 2003, 2004; Tungpairojwong và Bae, 2006; Tungpairojwong, 2007; Braasch Boonsoong, 2009) [54, 56, 58, 59]. Kết quả nghiên cứu đến năm 2003 cho thấy ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc 18 họ của bộ Phù du (dẫn theo Nguyễn Văn Vịnh, 2003) [54]. Các nghiên cứu về Phù du đến nay khá đầy đủ cả về giai đoạn ấu trùng và trƣởng thành, không chỉ dừng lại ở việc định loại các loài Phu dù mà các hƣớng nghiên cứu ứng dụng nhằm phục vụ cho lợi ích của con ngƣời và các vấn đề về sinh thái cũng nhƣ bảo tồn đƣợc quan tâm rất nhiều. Các nghiên cứu điển hình trong các hƣớng này nhƣ: nghiên cứu về sự sinh sản và biến động theo mùa của Phù du bởi Neddham và cộng sự (1935), kết quả nghiên cứu của Lestage (1930) cho thấy nhƣ̃ng thủy vƣ̣c nƣớc chảy mà ở đó cấ u trúc nề n đáy là các khố i đá với nhiề u kić h thƣớc khác nhau và có chƣ́a mùn bã hƣ̃u cơ thì thành phầ n loài Phù du rấ t đa da ̣ng [52].

Sự ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đối với sự phân bố và đa dạng của bộ Phù du gần đây cũng đã đƣợc nghiên cứu (Brittain, 2008) [43].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ