Tổng quan nghiên cứu

Lớp côn trùng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong sinh quyển với quy mô quần thể ước tính lên tới một tỷ tỷ cá thể, đại diện cho hơn 90% các dạng sống trên hành tinh. Tại Việt Nam, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa là nơi lưu trữ nguồn tài nguyên côn trùng vô cùng đa dạng, đóng vai trò chủ đạo trong việc thụ phấn cho thực vật và duy trì chu trình tuần hoàn vật chất tự nhiên. Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến thuộc tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên 5.872,99 ha, trong đó đất có rừng đạt 5.284,80 ha, sở hữu hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi phong phú. Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học về khu hệ côn trùng tại đây trước đây còn rất nghèo nàn, phân tán và chưa có tính hệ thống để làm căn cứ quản lý.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu xác định cấu trúc thành phần loài, quy luật phân bố sinh thái theo sinh cảnh và đai cao, đánh giá trữ lượng các loài có ích cũng như côn trùng gây hại, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp bảo tồn và quản lý tài nguyên rừng bền vững. Phạm vi không gian của đề tài bao quát toàn bộ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 6.496 ha, phân khu phục hồi sinh thái 4.377 ha và vùng đệm 4.308 ha thuộc địa bàn 3 xã Thượng Tiến, Kim Tiến và Quý Hòa. Thời gian nghiên cứu thực địa được tiến hành tập trung từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập danh lục 166 loài côn trùng thuộc 33 họ và 11 bộ, phát hiện 3 loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời cung cấp giải pháp giảm thiểu áp lực sinh kế tại khu vực có tỷ lệ hộ nghèo dao động từ 50,0% đến 70,2%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng tổng hợp lý thuyết sinh thái học quần xã và nguyên lý bảo tồn sinh học đa tầng tán trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa. Khung phân tích được xây dựng trên mô hình tương tác giữa thảm thực vật rừng đá vôi và chuỗi thức ăn côn trùng học. Bốn khái niệm trọng tâm được áp dụng xuyên suốt gồm:

  1. Đa dạng thành phần loài: Mức độ phong phú của các đơn vị phân loại học trong một sinh cảnh xác định.
  2. Chỉ số phong phú Margalef: Thước đo định lượng tương quan giữa tổng số loài và dung lượng cá thể thu thập.
  3. Tần suất xuất hiện không gian: Tỷ lệ phần trăm điểm điều tra ghi nhận sự có mặt của một loài cụ thể.
  4. Đa dạng chức năng sinh thái: Phân chia nhóm côn trùng ăn thực vật, nhóm thiên địch ký sinh, bắt mồi và nhóm phân hủy chất hữu cơ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu ngoại nghiệp được thu thập qua 4 tuyến khảo sát có tổng chiều dài 23 km, phủ kín 4 dạng sinh cảnh tiêu biểu: rừng cây gỗ kín thường xanh, rừng tái sinh xen tre nứa, rừng ven khe suối và sinh cảnh dân cư nông nghiệp. Cỡ mẫu điều tra bao gồm 19 điểm khảo sát chuẩn bán kính 10 m cùng 45 ô dạng bản diện tích 1 m vuông (kích thước 1 m x 1 m) để bẫy bắt côn trùng mặt đất. Phương pháp chọn mẫu theo tuyến điển hình kết hợp điểm cố định được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện sinh thái trên địa hình hiểm trở có độ dốc trên 35 độ và độ cao từ 200 m đến 1.073 m.

Phương pháp thu thập mẫu kết hợp linh hoạt giữa vợt bắt thủ công đường kính miệng 35 cm cán dài 2,5 m, bẫy đèn công suất 25W sử dụng nguồn điện ắc quy 12V tại các bãi trống ven rừng, và bẫy hố chôn đất có mồi nhử. Mẫu vật được xử lý bằng phương pháp cắm kim khô định hình trong lọ độc Kali Cyanure hoặc ngâm cồn bảo quản. Toàn bộ mẫu được giám định định danh tại Bộ môn Bảo vệ thực vật thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp. Phương pháp phân tích định lượng sử dụng công thức Margalef d = (S - 1) / logN và công thức tính tần suất bắt gặp P% nhằm đảm bảo tính chuẩn xác, khách quan và có độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và định danh chính xác 166 loài côn trùng thuộc 33 họ của 11 bộ khác nhau tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến. Cấu trúc bộ ghi nhận sự chiếm ưu thế tuyệt đối của bộ Cánh cứng (Coleoptera) với 56 loài, chiếm tỷ lệ 33,73% tổng số loài, tiếp theo là bộ Cánh vảy (Lepidoptera) với 46 loài, chiếm 27,71%. Bộ Cánh nửa (Hemiptera) xếp thứ ba với 23 loài, chiếm 13,86%, trong khi bộ Cánh thẳng (Orthoptera) có 12 loài, chiếm 7,23%. Các bộ còn lại như Chuồn chuồn (Odonata), Cánh đều (Homoptera), Bọ ngựa (Mantodea) có từ 4 đến 10 loài.

Nghiên cứu phát hiện 3 loài côn trùng quý hiếm có giá trị bảo tồn cao gồm: loài Kặp kìm lớn (Dorcus grandis) thuộc cấp Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Nhóm IIB Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; loài Bướm phượng đốm kem (Papilio noblei) thuộc cấp Sẽ nguy cấp (VU); và loài Bướm phượng Troides helena nằm trong Nhóm IIB.

Xét theo sinh cảnh, sinh cảnh rừng tái sinh hỗn giao tre nứa kết hợp ao hồ suối có độ phong phú cao nhất với 115 loài (chỉ số Margalef d = 48,75), tiếp theo là rừng gỗ kín thường xanh với 106 loài (d = 46,36), rừng tái sinh thuần có 97 loài (d = 43,94), và thấp nhất là sinh cảnh dân cư nông nghiệp với 84 loài (d = 39,14). Theo đai cao, tính đa dạng giảm mạnh: đai 200 - 400 m tập trung 94 loài (chiếm 56,63%), đai 400 - 600 m ghi nhận 57 loài (34,34%), và đai 600 - 800 m chỉ còn 23 loài (13,86%).

Về sinh thái chức năng, nghiên cứu xác định có 116 loài gây hại thực vật (chiếm 69,88% tổng số loài), trong đó 69 loài hại lá và 32 loài hại thân. Các loài dịch hại nguy hiểm gồm châu chấu tre lưng vàng (Ceracris kiangsu) và bọ xít hại ngọn cây. Song song đó, khu hệ ghi nhận mạng lưới thiên địch phong phú gồm các loài bọ ngựa, bọ rùa và bọ xít ăn sâu có vai trò khống chế mật độ sâu hại tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa mật độ côn trùng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến chịu sự chi phối chặt chẽ bởi điều kiện vi khí hậu nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình 23 độ C, lượng mưa mùa hè chiếm 90,38% cả năm và thảm thực vật đa tầng. Đai cao 200 - 400 m có nền nhiệt ấm và nguồn thức ăn dồi dào từ thực vật có hoa nên tập trung mật độ loài cao vượt trội so với đai trên 600 m nơi có gió mạnh và nhiệt độ thấp.

Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận, thành phần loài bộ Cánh cứng và Cánh vảy tại Thượng Tiến có nét tương đồng sinh thái vùng Karst phía Bắc như Vườn quốc gia Tam Đảo hay Vườn quốc gia Xuân Sơn. Mặc dù số lượng loài ghi nhận thấp hơn các vườn quốc gia lớn do giới hạn thời gian nghiên cứu 9 tháng, tính đa dạng sinh học tại đây vẫn thể hiện tiềm năng bảo tồn rất lớn.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan hóa qua biểu đồ tròn phản ánh tỷ lệ cơ cấu 11 bộ côn trùng và hệ thống biểu đồ cột kết hợp đường biểu diễn chỉ số Margalef qua 4 dạng sinh cảnh. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý nhanh chóng nhận diện những phân khu sinh thái có tính nhạy cảm cao để ưu tiên bố trí nguồn lực bảo vệ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập phân khu bảo tồn nghiêm ngặt và tăng cường tuần tra: Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến cần chủ trì phối hợp với Hạt Kiểm lâm thành lập 5 chốt bảo vệ chuyên trách tại các khu vực rừng kín thường xanh núi đá vôi trong giai đoạn 2015 - 2017, đặt mục tiêu giảm thiểu trên 50% các vụ vi phạm khai thác gỗ nghiến, lát hoa và săn bắt côn trùng quý hiếm trái phép.
  2. Xây dựng mô hình sinh kế bền vững giảm áp lực vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Kim Bôi và huyện Lạc Sơn chủ trì triển khai dự án phát triển nghề nuôi ong lấy mật và trồng nấm dưới tán rừng tại 3 xã Thượng Tiến, Kim Tiến, Quý Hòa trong thời gian 2015 - 2018, phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo từ mức 52,8% - 70,2% xuống dưới mức 30,0%, tạo sinh kế thay thế cho việc đốt than và làm nương rẫy.
  3. Vận hành hệ thống giám sát và cảnh báo sớm sâu bệnh hại rừng: Bộ môn Bảo vệ thực vật thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp cùng Ban Quản lý thiết lập mạng lưới 10 trạm bẫy đèn dự tính dự báo định kỳ hàng tháng từ năm 2015, nhằm kiểm soát 100% các nguy cơ bùng phát dịch châu chấu tre lưng vàng và sâu hại măng tre nứa.
  4. Triển khai chương trình giáo dục môi trường học đường và cộng đồng: Ban Quản lý khu bảo tồn chủ trì tổ chức 12 đợt tập huấn nâng cao nhận thức bảo tồn thiên nhiên và phổ biến các chế tài xử phạt theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP tại 30 thôn bản vùng đệm từ năm 2015 đến 2020, nâng tỷ lệ người dân tham gia cam kết bảo vệ rừng lên trên 85%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia vùng Tây Bắc: Sử dụng danh lục 166 loài và quy trình điều tra tuyến chuẩn hóa làm tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trong công tác kiểm kê đa dạng sinh học định kỳ 5 năm một lần.
  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Khai thác phương pháp ứng dụng chỉ số Margalef, kỹ thuật xử lý mẫu cắm kim và các mô hình sinh thái học côn trùng để phục vụ nghiên cứu học thuật và giảng dạy chuyên sâu.
  3. Chi cục Kiểm lâm và cơ quan quản lý nông lâm nghiệp cấp tỉnh: Tham khảo dữ liệu đánh giá 116 loài côn trùng gây hại để xây dựng chiến lược phòng trừ dịch hại tổng hợp và quản lý bảo vệ rừng gỗ quý trên núi đá vôi.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ bảo tồn quốc tế: Sử dụng số liệu định lượng về 3 loài côn trùng nguy cấp và hiện trạng kinh tế - xã hội tại 3 xã vùng đệm làm căn cứ xây dựng đề xuất tài trợ cho các dự án lâm nghiệp cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận và định danh được bao nhiêu loài côn trùng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến? Nghiên cứu đã điều tra, thu thập và định danh chính xác 166 loài côn trùng thuộc 33 họ của 11 bộ khác nhau. Trong đó, bộ Cánh cứng chiếm tỷ trọng lớn nhất với 56 loài (33,73%), bộ Cánh vảy đứng thứ hai với 46 loài (27,71%), tạo nên bộ cơ sở dữ liệu khoa học nền tảng cho công tác bảo tồn sinh học tại địa phương.

Những loài côn trùng quý hiếm nào có tên trong Sách Đỏ được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu? Đề tài phát hiện 3 loài côn trùng đặc biệt quý hiếm gồm: Kặp kìm lớn (Dorcus grandis) thuộc cấp Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Nhóm IIB Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Bướm phượng đốm kem (Papilio noblei) ở cấp Sẽ nguy cấp (VU); và Bướm phượng Troides helena nằm trong Nhóm IIB.

Quy luật phân bố côn trùng theo đai cao địa hình tại khu bảo tồn diễn ra như thế nào? Số lượng loài giảm dần khi lên cao: đai 200 - 400 m tập trung 94 loài nhờ nhiệt độ ấm áp 23 độ C và sinh cảnh phong phú; đai 400 - 600 m giảm xuống còn 57 loài; và đai 600 - 800 m chỉ còn 23 loài, trong đó nhiều bộ côn trùng như Chuồn chuồn và Bọ ngựa hoàn toàn không xuất hiện.

Thành phần côn trùng gây hại thực vật chiếm tỷ lệ bao nhiêu và có những loài nguy hiểm nào? Khu hệ có 116 loài gây hại thực vật (chiếm 69,88% tổng số loài), gồm 69 loài hại lá và 32 loài hại thân cây rừng. Đáng chú ý nhất là loài châu chấu tre lưng vàng (Ceracris kiangsu) có khả năng sinh sản nhanh và từng bùng phát thành dịch phá hoại nghiêm trọng diện tích rừng tre nứa tại xã Quý Hòa.

Áp lực kinh tế - xã hội nào đe dọa trực tiếp nhất đến tài nguyên côn trùng tại địa phương? Tình trạng nghèo đói với tỷ lệ hộ nghèo từ 50,0% đến 70,2% tại 3 xã vùng đệm là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản quá mức và lạm dụng thuốc trừ sâu hóa học, làm suy thoái nghiêm trọng sinh cảnh sống của côn trùng.

Kết luận

  • Đã xác lập danh mục phân loại học đầy đủ gồm 166 loài côn trùng thuộc 33 họ của 11 bộ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến.
  • Đã ghi nhận 3 loài côn trùng quý hiếm có giá trị bảo tồn quốc gia và quốc tế cần được ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt.
  • Đã làm rõ quy luật biến thiên đa dạng sinh thái qua 4 dạng sinh cảnh và 3 đai cao địa hình từ 200 m đến 800 m.
  • Đã phân loại chi tiết 116 loài côn trùng gây hại và xác định các loài thiên địch chủ chốt để phục vụ cân bằng sinh thái.
  • Đã đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về kỹ thuật lâm sinh, sinh kế bền vững và chính sách quản lý cộng đồng.

Trong giai đoạn 2015 - 2020, Ban Quản lý khu bảo tồn cần khẩn trương tích hợp các phát hiện của luận văn vào Quy hoạch phát triển rừng bền vững của tỉnh Hòa Bình. Hãy chủ động liên hệ với tác giả và Bộ môn Bảo vệ thực vật thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp để tiếp nhận chuyển giao cơ sở dữ liệu và triển khai các dự án bảo tồn chuyên sâu.