Nghiên cứu thành phần loài côn trùng họ bọ hung tại khu bảo tồn thiên nhiên Copia, tỉnh Sơn La

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu thành phần loài côn trùng họ bọ hung coleoptera scarabaeidae ở khu bảo tồn thiên nhiên, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2018

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lƣợc sử nghiên cứu Scarabaeidae

1.1.1. Lược sử nghiên cứu Scarabaeidae ở miền Đông Phương (Oriental Region) và một số nước lân cận

1.1.2. Lược sử nghiên cứu Scarabaeidae ở Việt Nam và KBTTN Copia

1.2. Vị trí của Scarabaeidae trong thang phân loại

1.3. Vòng đời và đặc điểm hình thái của Scarabaeidae

1.3.1. Vòng đời của Scarabaeidae

1.3.2. Đặc điểm hình thái của Scarabaeidae

1.4. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu

1.4.1. Vị trí địa lý

1.4.2. Khí hậu và thủy văn. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.4.3. Đa dạng sinh học

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.3.3. Phân tích, xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thành phần loài côn trùng họ Bọ hung tại KBTTN Copia

3.2. Các loài Scarabaeidae ghi nhận bổ sung cho khu hệ côn trùng Việt Nam, các loài có giá trị bảo tồn và các loài chỉ đƣợc đinh danh đến giống ở KBTTN Copia

3.2.1. Các loài ghi nhận bổ sung cho khu hệ côn trùng Việt Nam

3.2.2. Các loài cần được ưu tiên bảo tồn

3.2.3. Các loài chỉ được định danh đến giống

3.3. Cấu trúc thành phần loài côn trùng họ Bọ hung ở 3 sinh cảnh rừng khác nhau

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu côn trùng bọ hung tại khu bảo tồn Copia

Nghiên cứu côn trùng bọ hung tại khu bảo tồn Copia là một lĩnh vực quan trọng trong sinh thái học. Khu bảo tồn Copia, nằm ở tỉnh Sơn La, là nơi có đa dạng sinh học phong phú. Họ bọ hung (Scarabaeidae) là một trong những nhóm côn trùng quan trọng, đóng vai trò trong chu trình dinh dưỡng và bảo tồn đất đai. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thành phần loài mà còn đánh giá tác động của môi trường đến sự phát triển của chúng.

1.1. Đặc điểm sinh thái của khu bảo tồn Copia

Khu bảo tồn Copia có khí hậu đặc trưng với độ cao lớn và sự đa dạng về hệ sinh thái. Nơi đây có nhiều loại rừng khác nhau, từ rừng nhiệt đới đến rừng hỗn giao. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài côn trùng, trong đó có bọ hung. Các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ và loại đất ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và đa dạng của chúng.

1.2. Vai trò của bọ hung trong hệ sinh thái

Bọ hung có vai trò quan trọng trong việc phân hủy chất hữu cơ và tái tạo đất. Chúng giúp cải thiện cấu trúc đất và tăng cường độ phì nhiêu. Ngoài ra, một số loài bọ hung còn tham gia vào quá trình thụ phấn cho cây trồng, góp phần vào sự phát triển của hệ sinh thái.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu côn trùng bọ hung

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về côn trùng bọ hung, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo tồn và nghiên cứu chúng. Sự tàn phá môi trường, biến đổi khí hậu và hoạt động của con người đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài bọ hung. Việc thiếu thông tin về thành phần loài và sự phân bố của chúng cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Tác động của con người đến bọ hung

Hoạt động khai thác rừng và canh tác nông nghiệp đã làm giảm diện tích sống của bọ hung. Nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do mất môi trường sống. Việc sử dụng thuốc trừ sâu cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của chúng.

2.2. Thiếu thông tin về đa dạng sinh học

Nhiều loài bọ hung chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến việc thiếu thông tin về sự phân bố và tình trạng bảo tồn của chúng. Điều này gây khó khăn trong việc xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu côn trùng bọ hung tại khu bảo tồn Copia

Để nghiên cứu thành phần loài côn trùng bọ hung, các phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu được áp dụng. Việc sử dụng bẫy UV và bẫy đèn giúp thu thập mẫu một cách hiệu quả. Sau khi thu mẫu, các loài được xác định và phân tích để đánh giá sự đa dạng sinh học.

3.1. Phương pháp thu mẫu côn trùng

Sử dụng bẫy UV và bẫy đèn là hai phương pháp chính trong việc thu mẫu bọ hung. Các bẫy này được đặt ở nhiều vị trí khác nhau trong khu bảo tồn để đảm bảo thu thập được đa dạng mẫu vật.

3.2. Phân tích và xử lý số liệu

Sau khi thu thập mẫu, các loài bọ hung được phân tích dựa trên các đặc điểm hình thái và sinh thái. Số liệu được xử lý để đánh giá sự đa dạng và cấu trúc của quần thể bọ hung trong khu bảo tồn.

IV. Kết quả nghiên cứu thành phần loài bọ hung tại Copia

Kết quả nghiên cứu cho thấy khu bảo tồn Copia có sự đa dạng cao về thành phần loài bọ hung. Nhiều loài mới được ghi nhận, trong đó có những loài có giá trị bảo tồn cao. Sự phân bố của các loài bọ hung cũng cho thấy sự khác biệt giữa các sinh cảnh rừng khác nhau.

4.1. Thành phần loài bọ hung ghi nhận tại Copia

Nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều loài bọ hung khác nhau, trong đó có những loài lần đầu tiên được phát hiện tại khu vực này. Điều này cho thấy sự phong phú của hệ sinh thái tại khu bảo tồn Copia.

4.2. Các loài bọ hung cần được bảo tồn

Một số loài bọ hung đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và cần được ưu tiên bảo tồn. Việc bảo vệ môi trường sống của chúng là rất cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học tại khu bảo tồn.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu côn trùng bọ hung

Nghiên cứu côn trùng bọ hung tại khu bảo tồn Copia đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về thành phần loài và vai trò của chúng trong hệ sinh thái. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sự đa dạng và tình trạng bảo tồn của các loài bọ hung. Các biện pháp bảo tồn cần được thực hiện để bảo vệ môi trường sống của chúng.

5.1. Tương lai của nghiên cứu côn trùng bọ hung

Nghiên cứu côn trùng bọ hung sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Các nghiên cứu sâu hơn sẽ giúp phát hiện ra nhiều loài mới và hiểu rõ hơn về vai trò của chúng trong hệ sinh thái.

5.2. Biện pháp bảo tồn cần thiết

Cần có các biện pháp bảo tồn hiệu quả để bảo vệ môi trường sống của bọ hung. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của bọ hung cũng là một yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Họ Bọ hung Scarabaeidae Latreille, 1802 là họ lớn nhất trong số 12 họ của liên họ Scarabaeoidea và là một trong những họ có số lƣợng loài lớn nhất của bộ Cánh cứng (Coleoptera). Hiện có khoảng 1900 giống đƣợc mô tả và khoảng 27.000 loài đã đƣợc định tên (Bouchard et al. Không chỉ đa dạng về thành phần loài, các đại diện của họ Bọ hung còn có nguồn thức ăn và môi trƣờng sống đa dạng: một số loài ăn phân, ăn thực vật bị phân hủy hoặc xác chết; một số loài ăn các bộ phận của thực vật nhƣ: rễ, thân, lá, hoa, củ…; một số loài sống trong tổ hoặc hang của động vật có xƣơng sống; một số ít loài ăn các loài nấm. Do đó chúng có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái: là mắt xích tạo nên các chuỗi và lƣới thức ăn, một số loài thụ phấn cho cây giúp tăng năng suất cây trồng, chúng góp phần vào chu trình phân hủy chất thải của động thực vật, làm màu mỡ đất đai.

Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống phân loại họ Bọ hung. Theo quan điểm của Smith (2006) [113], họ Bọ hung đƣợc chia làm 19 phân họ. Tại Việt Nam, dựa theo quan điểm này đã ghi nhận sự có mặt của 7 phân họ: Aphodiinae, Cetoniinae, Dynastinae, Melolonthinae, Orphninae, Rutelinae và Scarabaeinae. Hiện nay, nhiều loài trong họ Bọ hung đang đứng trƣớc các nguy cơ bị đe dọa cao, do việc tàn phá hệ sinh thái, săn bắt và mua bán trái phép.

Hơn nữa, do nhiều ngƣời dân thiếu kiến thức về bảo tồn, nên thƣờng xuyên bắt các loài côn trùng về làm thực phẩm, đặc biệt là những loài đƣợc ghi trong Sách đỏ và Danh lục đỏ Việt Nam. Chính bởi sự đa dạng và cấp thiết đó, các loài họ Bọ hung đã và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khu Bảo tồn thiên nhiên Copia đƣợc thành lập năm 2002, nằm trên địa bàn 3 xã Co Mạ, Chiềng Bôm và Long Hẹ của huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, cách thành phố Sơn La 70 km về phía Đông. Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, trong năm 2016 tại huyện Thuân Châu, tỉnh Sơn La có 130 điểm có nguy cơ cháy rừng.

Trong đó KBTTN Copia đƣợc coi là một điểm nóng về cháy rừng với 84 điểm [125]. Khu Bảo tồn Copia ở độ cao lớn và chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình năm tƣơng đối thấp (190C). Hằng năm xuất hiện sƣơng muối và băng giá. Băng giá, mƣa tuyết cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 2016 ở các tỉnh miền núi phía bắc, đặc biệt ở KBTTN Copia với địa hình núi cao khiến nhiều cây cối trong rừng của khu bảo tồn bị đổ, lá rơi xuống tạo thành thảm thực vật khô dễ bốc cháy.

Trong khi đó nhiệt độ mấy ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 luôn ở mức cao và việc đốt rừng làm nƣơng rẫy trong giai đoạn này của ngƣời dân địa phƣơng đã gây cháy hàng loạt khu rừng đặc dụng tại KBTTN này khiến cho thảm thực vật, các loài động vật bị suy giảm mạnh, trong đó có các loài côn trùng. Từ khi thành lập đến nay, tại đây đã có một công trình nghiên cứu về họ Bọ Hung của Nguyễn Thị Thu Hƣờng và Lê Xuân Huệ (2009) [14]. Do đó để có những dẫn liệu mới, mang tính cập nhật về khu hệ và đánh giá sự thay đổi cấu trúc thành phần loài côn trùng họ Bọ hung giữa các sinh cảnh rừng khác nhau, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài côn trùng họ Bọ hung (Coleoptera: Scarabaeidae) ở khu Bảo tồn Thiên nhiên Copia, tỉnh Sơn La”, nhằm mục tiêu: - Xác định thành phần loài côn trùng họ Bọ hung ở KBTTN Copia tỉnh Sơn La. - So sánh cấu trúc thành phần loài côn trùng họ Bọ hung ở một số sinh cảnh rừng khác nhau.

2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu Scarabaeidae 1. Lược sử nghiên cứu Scarabaeidae ở miền Đông Phương (Oriental Region) và một số nước lân cận Ngày nay, các nhà khoa học đều thống nhất chia các lục địa ra 6 miền địa lý động vật khác nhau: miền Cổ Bắc (Palaearctic Region), miền Tân Bắc (Nearctic region), miền Đông Phƣơng (Oriental Region), miền Ethiopi (Ethiopin Region), miền Tân Nhiệt Đới (Neotropical Region) và miền Australia (Australian Region).

Trong đó miền địa lý động vật Đông Phƣơng (Oriental Region) bao gồm toàn bộ phần nhiệt đới và cận nhiệt đới lục địa châu Á, từ Tiểu Á ở phía Tây đến đảo Riou – Kiou ở phía Đông. Cảnh quan miền đa dạng, có nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau: rừng nhiệt đới phát triển ở phía Đông, sa mạc ở phía Tây, savan lớn ở Ấn Độ, rừng nƣớc ngập mặn ở ven biển, cánh đồng rộng ở Trung Quốc, Ấn Độ, núi cao ở miền Trung và Nam. Rừng ẩm nhiệt đới của miền Đông Phƣơng tập trung ở Đông Dƣơng, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin. Khu hệ động vật miền Đông Phƣơng rất phong phú và đa dạng, mang tính chất nhiệt đới hoàn toàn, đồng thời có tính lục địa rõ ràng và có đầy đủ các dạng, mặc dù có sự xâm nhập của các yếu tố Cổ Bắc và Australia (Lê Vũ Khôi và cs.

Hai phân miền Ấn Độ (Indian) và Đông Dƣơng (Indochina) của miền Đông Phƣơng là những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới. Theo thống kê của Gosh (1996) ở phân miền Indian có khoảng 51.000 loài côn trùng chiếm 6,08% các loài côn trùng trên toàn thế giới, trong đó bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 15. Mới đây, năm 2018, Lee & Duwal đã ghi nhận có 19.697 loài côn trùng (chiếm 1,96 %) đƣợc ghi nhận ở phân miền Indochina, trong đó Coleoptera có 3.653 loài chiếm 1,4% tổng số loài đƣợc ghi nhận trên toàn thế giới [69]. Ở miền Đông Phƣơng và một số nƣớc lân cận, các công trình nghiên cứu về họ côn trùng này đƣợc tiến hành khá sớm từ những năm cuối thế kỷ XIX và còn 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển mạnh đến ngày nay.

Các nghiên cứu này phần lớn đƣợc thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến từ Nhật Bản và Phƣơng Tây. Những năm cuối thế kỷ XIX, Burmeister (1847) và Fairmaire (1893) là hai tác giả có những nghiên cứu đầu tiên về họ Bọ hung ở miền Đông Phƣơng. Năm 1847, Burmeister thực hiện nghiên cứu về 2 giống Xylophila và Pectinicornia. Sau đó, năm 1893 Fairmaire đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ cánh cứng ở vùng Tokin, trong đó có các loài thuộc họ Bọ hung (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Hƣờng, 2005) [9].

Trong những năm của thế kỷ XX, Moser (1912, 1914, 1915) đã có hàng loạt các nghiên cứu về họ Melolonthidae, những nghiên cứu này đã công bố một số loài mới thuộc giống Holotrichia và Pentelia (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Hƣờng, 2005) [9]. Vitalis (1921) đã thực hiện nghiên cứu về khu hệ côn trùng vùng Đông Dƣơng, trong đó có các loài thuộc họ Bọ hung. Itoh (1995, 1997) thực hiện các nghiên cứu về họ Melolonthidae ở Thái Lan, khu vực Đông Nam Á và các loài thuộc giống Holotrichia ở Nhật Bản 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong những năm 2000 đến 2010, tại khu vực Đông Nam Á nói riêng và miền Đông Phƣơng nói chung, có hàng loạt các công trình nghiên cứu về họ Bọ hung của các tác giả: Yamaya & Shigeto (2000, 2001), Wada (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Ioth (2003), Jameson & Wada (2004), Nagai (2004), Maramuto (2004), Kieth (2005), Iwase (2005), Ochi & Kon (2005, 2006, 2007), Kobayashi (2007, 2008, 2009 & 2010).Wada, từ 2001 đến 2006 đã có dãy các công trình về giống Parastasia (Rutelinae) ở các nƣớc miền Đông Phƣơng [115].

Năm 2004, Jameson & Wada nghiên cứu về giống Peltontus ở Đông Nam Á, kết quả: nghiên cứu này đã phát hiện đƣợc 11 loài mới cho khoa học [50]. Trong 3 năm từ 2005 – 2007, Ochi & Kon, đã thực hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu về Bọ hung ăn phân ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á [98]. Hai loài mới thuộc giống Paratrichius từ các nƣớc Đông Nam Á đƣợc mô tả bởi Iwase vào năm 2005 [46]. Năm 2007, dựa trên việc phân tích 48 taxa, sử dụng 47 đặc điểm hình thái và cấu trúc bộ phận sinh dục đực và cái (genitalia) CoCa-Abia đã đƣa ra mối quan hệ chủng loại phát sinh của các tộc, các giống và các phân giống thuộc phân họ Melolonthinae.

Kết quả cho thấy: phân họ Melolonthinae là một nhóm đa phát sinh (paraphyletic), trong khi đó đơn phát sinh (monophyletic) của các giống Holotrichia, Trichesthes, Phyllophaga và các phân giống của nó còn có nhiều ghi vấn [37]. Cũng trong năm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này, Zidek & Krajcik đã đƣa ra những lƣu ý về hệ thống phân loại của các loài thuộc giống Dedalopterus (Melolonthinae), theo kết quả của nghiên cứu tất cả các loài thuộc giống này đều đƣợc ghi nhận ở miền Đông Phƣơng (Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam), đồng thời nghiên cứu cũng mô tả hai loài mới D. fencil cho khoa học (1 cho Lào và 1 cho Trung Quốc) [121]. Năm 2010, Ochi, Kon & Kawahara đã mô tả 4 loài mới thuộc giống Gilletianus dựa trên mẫu vật thu đƣợc từ các nƣớc khu vực Đông Nam Á [99].

Những nghiên cứu từ sau 2010 đến nay: Zorn (2011) đã mô tả 12 loài mới cho khoa học thuộc giống Anomala Samouelle, 1819 dựa trên mẫu vật thu đƣợc từ các nƣớc Đông Nam Á (Việt Nam 7 loài, Lào 1 loài, Cam-pu-chia 1 loài) và Nam Trung Quốc (3 loài) [122]. Năm 2011, Kobayashi, đã tiếp tục thực hiện nghiên cứu trên giống Apogonia ở các nƣớc Đông Nam Á; đây là công bố thứ 5 của ông về giống này ở khu vực này [62]. Cũng trong năm này Bezděk & Kobayashi đã đƣa ra những tên đồng vật mới, loài mới và ghi nhận phân bố mới của một số loài thuộc giống Apogonia ở miền Đông Phƣơng [27]. Năm 2012, Kobayashi thực hiện nghiên cứu trên giống Spinanomala (Rutelinae) trên toàn miền Đông Phƣơng [58].

Cũng trong năm này, một danh mục của các loài thuộc phân họ Euchirinae trên toàn thế giới đƣợc thiết lập bởi Muramoto [91]; Fujioka & Kobayashi đã hực hiện nghiên cứu về nhóm loài Callistethus auronitens (Rutelinae) ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á [42]. Trong năm 2013, Kobayashi & Fujioka đã có các nghiên cứu về một số giống: Pseudosinghala (Rutelinae), Paratrichius (Trichiinae), Ectinohoplia (Melolonthinae) ở các quốc gia Đông Nam Á và Nam Á [63-65]. Cũng trong năm này, Wang et al. đã đƣa ra một bản tóm tắt sơ lƣợc về giống Tocama (Melolonthinae), nghiên cứu chỉ ra rằng tại vùng Đông Phƣơng có 11 loài thuộc giống này, trong đó 3 loài mới đều đƣợc công bố tại Trung Quốc [116].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ