MỞ ĐẦU Họ Bọ hung Scarabaeidae Latreille, 1802 là họ lớn nhất trong số 12 họ của liên họ Scarabaeoidea và là một trong những họ có số lƣợng loài lớn nhất của bộ Cánh cứng (Coleoptera). Hiện có khoảng 1900 giống đƣợc mô tả và khoảng 27.000 loài đã đƣợc định tên (Bouchard et al. Không chỉ đa dạng về thành phần loài, các đại diện của họ Bọ hung còn có nguồn thức ăn và môi trƣờng sống đa dạng: một số loài ăn phân, ăn thực vật bị phân hủy hoặc xác chết; một số loài ăn các bộ phận của thực vật nhƣ: rễ, thân, lá, hoa, củ…; một số loài sống trong tổ hoặc hang của động vật có xƣơng sống; một số ít loài ăn các loài nấm. Do đó chúng có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái: là mắt xích tạo nên các chuỗi và lƣới thức ăn, một số loài thụ phấn cho cây giúp tăng năng suất cây trồng, chúng góp phần vào chu trình phân hủy chất thải của động thực vật, làm màu mỡ đất đai.
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống phân loại họ Bọ hung. Theo quan điểm của Smith (2006) [113], họ Bọ hung đƣợc chia làm 19 phân họ. Tại Việt Nam, dựa theo quan điểm này đã ghi nhận sự có mặt của 7 phân họ: Aphodiinae, Cetoniinae, Dynastinae, Melolonthinae, Orphninae, Rutelinae và Scarabaeinae. Hiện nay, nhiều loài trong họ Bọ hung đang đứng trƣớc các nguy cơ bị đe dọa cao, do việc tàn phá hệ sinh thái, săn bắt và mua bán trái phép.
Hơn nữa, do nhiều ngƣời dân thiếu kiến thức về bảo tồn, nên thƣờng xuyên bắt các loài côn trùng về làm thực phẩm, đặc biệt là những loài đƣợc ghi trong Sách đỏ và Danh lục đỏ Việt Nam. Chính bởi sự đa dạng và cấp thiết đó, các loài họ Bọ hung đã và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khu Bảo tồn thiên nhiên Copia đƣợc thành lập năm 2002, nằm trên địa bàn 3 xã Co Mạ, Chiềng Bôm và Long Hẹ của huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, cách thành phố Sơn La 70 km về phía Đông. Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, trong năm 2016 tại huyện Thuân Châu, tỉnh Sơn La có 130 điểm có nguy cơ cháy rừng.
Trong đó KBTTN Copia đƣợc coi là một điểm nóng về cháy rừng với 84 điểm [125]. Khu Bảo tồn Copia ở độ cao lớn và chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình năm tƣơng đối thấp (190C). Hằng năm xuất hiện sƣơng muối và băng giá. Băng giá, mƣa tuyết cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 2016 ở các tỉnh miền núi phía bắc, đặc biệt ở KBTTN Copia với địa hình núi cao khiến nhiều cây cối trong rừng của khu bảo tồn bị đổ, lá rơi xuống tạo thành thảm thực vật khô dễ bốc cháy.
Trong khi đó nhiệt độ mấy ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 luôn ở mức cao và việc đốt rừng làm nƣơng rẫy trong giai đoạn này của ngƣời dân địa phƣơng đã gây cháy hàng loạt khu rừng đặc dụng tại KBTTN này khiến cho thảm thực vật, các loài động vật bị suy giảm mạnh, trong đó có các loài côn trùng. Từ khi thành lập đến nay, tại đây đã có một công trình nghiên cứu về họ Bọ Hung của Nguyễn Thị Thu Hƣờng và Lê Xuân Huệ (2009) [14]. Do đó để có những dẫn liệu mới, mang tính cập nhật về khu hệ và đánh giá sự thay đổi cấu trúc thành phần loài côn trùng họ Bọ hung giữa các sinh cảnh rừng khác nhau, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài côn trùng họ Bọ hung (Coleoptera: Scarabaeidae) ở khu Bảo tồn Thiên nhiên Copia, tỉnh Sơn La”, nhằm mục tiêu: - Xác định thành phần loài côn trùng họ Bọ hung ở KBTTN Copia tỉnh Sơn La. - So sánh cấu trúc thành phần loài côn trùng họ Bọ hung ở một số sinh cảnh rừng khác nhau.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu Scarabaeidae 1. Lược sử nghiên cứu Scarabaeidae ở miền Đông Phương (Oriental Region) và một số nước lân cận Ngày nay, các nhà khoa học đều thống nhất chia các lục địa ra 6 miền địa lý động vật khác nhau: miền Cổ Bắc (Palaearctic Region), miền Tân Bắc (Nearctic region), miền Đông Phƣơng (Oriental Region), miền Ethiopi (Ethiopin Region), miền Tân Nhiệt Đới (Neotropical Region) và miền Australia (Australian Region).
Trong đó miền địa lý động vật Đông Phƣơng (Oriental Region) bao gồm toàn bộ phần nhiệt đới và cận nhiệt đới lục địa châu Á, từ Tiểu Á ở phía Tây đến đảo Riou – Kiou ở phía Đông. Cảnh quan miền đa dạng, có nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau: rừng nhiệt đới phát triển ở phía Đông, sa mạc ở phía Tây, savan lớn ở Ấn Độ, rừng nƣớc ngập mặn ở ven biển, cánh đồng rộng ở Trung Quốc, Ấn Độ, núi cao ở miền Trung và Nam. Rừng ẩm nhiệt đới của miền Đông Phƣơng tập trung ở Đông Dƣơng, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin. Khu hệ động vật miền Đông Phƣơng rất phong phú và đa dạng, mang tính chất nhiệt đới hoàn toàn, đồng thời có tính lục địa rõ ràng và có đầy đủ các dạng, mặc dù có sự xâm nhập của các yếu tố Cổ Bắc và Australia (Lê Vũ Khôi và cs.
Hai phân miền Ấn Độ (Indian) và Đông Dƣơng (Indochina) của miền Đông Phƣơng là những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới. Theo thống kê của Gosh (1996) ở phân miền Indian có khoảng 51.000 loài côn trùng chiếm 6,08% các loài côn trùng trên toàn thế giới, trong đó bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 15. Mới đây, năm 2018, Lee & Duwal đã ghi nhận có 19.697 loài côn trùng (chiếm 1,96 %) đƣợc ghi nhận ở phân miền Indochina, trong đó Coleoptera có 3.653 loài chiếm 1,4% tổng số loài đƣợc ghi nhận trên toàn thế giới [69]. Ở miền Đông Phƣơng và một số nƣớc lân cận, các công trình nghiên cứu về họ côn trùng này đƣợc tiến hành khá sớm từ những năm cuối thế kỷ XIX và còn 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển mạnh đến ngày nay.
Các nghiên cứu này phần lớn đƣợc thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến từ Nhật Bản và Phƣơng Tây. Những năm cuối thế kỷ XIX, Burmeister (1847) và Fairmaire (1893) là hai tác giả có những nghiên cứu đầu tiên về họ Bọ hung ở miền Đông Phƣơng. Năm 1847, Burmeister thực hiện nghiên cứu về 2 giống Xylophila và Pectinicornia. Sau đó, năm 1893 Fairmaire đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ cánh cứng ở vùng Tokin, trong đó có các loài thuộc họ Bọ hung (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Hƣờng, 2005) [9].
Trong những năm của thế kỷ XX, Moser (1912, 1914, 1915) đã có hàng loạt các nghiên cứu về họ Melolonthidae, những nghiên cứu này đã công bố một số loài mới thuộc giống Holotrichia và Pentelia (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Hƣờng, 2005) [9]. Vitalis (1921) đã thực hiện nghiên cứu về khu hệ côn trùng vùng Đông Dƣơng, trong đó có các loài thuộc họ Bọ hung. Itoh (1995, 1997) thực hiện các nghiên cứu về họ Melolonthidae ở Thái Lan, khu vực Đông Nam Á và các loài thuộc giống Holotrichia ở Nhật Bản 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong những năm 2000 đến 2010, tại khu vực Đông Nam Á nói riêng và miền Đông Phƣơng nói chung, có hàng loạt các công trình nghiên cứu về họ Bọ hung của các tác giả: Yamaya & Shigeto (2000, 2001), Wada (2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006), Ioth (2003), Jameson & Wada (2004), Nagai (2004), Maramuto (2004), Kieth (2005), Iwase (2005), Ochi & Kon (2005, 2006, 2007), Kobayashi (2007, 2008, 2009 & 2010).Wada, từ 2001 đến 2006 đã có dãy các công trình về giống Parastasia (Rutelinae) ở các nƣớc miền Đông Phƣơng [115].
Năm 2004, Jameson & Wada nghiên cứu về giống Peltontus ở Đông Nam Á, kết quả: nghiên cứu này đã phát hiện đƣợc 11 loài mới cho khoa học [50]. Trong 3 năm từ 2005 – 2007, Ochi & Kon, đã thực hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu về Bọ hung ăn phân ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á [98]. Hai loài mới thuộc giống Paratrichius từ các nƣớc Đông Nam Á đƣợc mô tả bởi Iwase vào năm 2005 [46]. Năm 2007, dựa trên việc phân tích 48 taxa, sử dụng 47 đặc điểm hình thái và cấu trúc bộ phận sinh dục đực và cái (genitalia) CoCa-Abia đã đƣa ra mối quan hệ chủng loại phát sinh của các tộc, các giống và các phân giống thuộc phân họ Melolonthinae.
Kết quả cho thấy: phân họ Melolonthinae là một nhóm đa phát sinh (paraphyletic), trong khi đó đơn phát sinh (monophyletic) của các giống Holotrichia, Trichesthes, Phyllophaga và các phân giống của nó còn có nhiều ghi vấn [37]. Cũng trong năm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này, Zidek & Krajcik đã đƣa ra những lƣu ý về hệ thống phân loại của các loài thuộc giống Dedalopterus (Melolonthinae), theo kết quả của nghiên cứu tất cả các loài thuộc giống này đều đƣợc ghi nhận ở miền Đông Phƣơng (Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia và Việt Nam), đồng thời nghiên cứu cũng mô tả hai loài mới D. fencil cho khoa học (1 cho Lào và 1 cho Trung Quốc) [121]. Năm 2010, Ochi, Kon & Kawahara đã mô tả 4 loài mới thuộc giống Gilletianus dựa trên mẫu vật thu đƣợc từ các nƣớc khu vực Đông Nam Á [99].
Những nghiên cứu từ sau 2010 đến nay: Zorn (2011) đã mô tả 12 loài mới cho khoa học thuộc giống Anomala Samouelle, 1819 dựa trên mẫu vật thu đƣợc từ các nƣớc Đông Nam Á (Việt Nam 7 loài, Lào 1 loài, Cam-pu-chia 1 loài) và Nam Trung Quốc (3 loài) [122]. Năm 2011, Kobayashi, đã tiếp tục thực hiện nghiên cứu trên giống Apogonia ở các nƣớc Đông Nam Á; đây là công bố thứ 5 của ông về giống này ở khu vực này [62]. Cũng trong năm này Bezděk & Kobayashi đã đƣa ra những tên đồng vật mới, loài mới và ghi nhận phân bố mới của một số loài thuộc giống Apogonia ở miền Đông Phƣơng [27]. Năm 2012, Kobayashi thực hiện nghiên cứu trên giống Spinanomala (Rutelinae) trên toàn miền Đông Phƣơng [58].
Cũng trong năm này, một danh mục của các loài thuộc phân họ Euchirinae trên toàn thế giới đƣợc thiết lập bởi Muramoto [91]; Fujioka & Kobayashi đã hực hiện nghiên cứu về nhóm loài Callistethus auronitens (Rutelinae) ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á [42]. Trong năm 2013, Kobayashi & Fujioka đã có các nghiên cứu về một số giống: Pseudosinghala (Rutelinae), Paratrichius (Trichiinae), Ectinohoplia (Melolonthinae) ở các quốc gia Đông Nam Á và Nam Á [63-65]. Cũng trong năm này, Wang et al. đã đƣa ra một bản tóm tắt sơ lƣợc về giống Tocama (Melolonthinae), nghiên cứu chỉ ra rằng tại vùng Đông Phƣơng có 11 loài thuộc giống này, trong đó 3 loài mới đều đƣợc công bố tại Trung Quốc [116].