phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luâ ̣n và phƣơng pháp nghiện cứu Chƣơng 2: Nghiên cƣ́u cảnh quan - cơ sở điạ lý tổ ng hơ ̣p cho tổ chƣ́c không gian sƣ̉ du ̣ng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng huyê ̣n Quảng Ninh Chƣơng 3: Phân tích, đánh giá cảnh quan phục vụ định hƣớng sƣ̉ du ̣ng hơ ̣ p lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng Chƣơng 4: Đinh ̣ hƣớng tổ chƣ́c không gian phát triể n nông , lâm nghiệp, du lịch và sƣ̉ du ̣ng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyê ̣n Quảng Ninh. Các nội dung chính của các chƣơng đƣợc khái quát hoá trong bảng 1. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái quát nội dung nghiên cứu của các chƣơng STT Chƣơng Mục tiêu Nội dung nghiên Sản phẩm đạt đƣợc Phƣơng pháp cứu nghiên cứu 1 - Tìm hiểu về lí - Nghiên cứu lý - Xây dựng đƣợc cơ cở lý luận và luận nghiên cứu luận, đánh giá cảnh phƣơng pháp nghiên cứu của luận án cảnh quan, đánh quan, mô hình kinh Chƣơng giá cảnh quan, tế sinh thái và áp Phân tích và 1 mô hình hệ kinh dụng cho huyện tổng hợp tài tế sinh thái, liên Quảng Ninh liệu kết và quản trị - Cơ sở về liên kết vùng và quản trị vùng áp - Vận dụng vào dụng với Quảng nghiên cứu ở Ninh Quảng Ninh 2 Chƣơng - Xác định đƣợc - Đặc điểm và vai - Tác động tổng hợp các nhân tố (TN - Ứng dụng 2 đặc điểm và sự, trò của các nhân tố và hoạt động khai thác lãnh thổ của mô hình DEM phân hóa các thành tạo cảnh quan ngƣời dân) tạo nên sự phân hóa cảnh trong xây hợp phần và huyện Quảng Ninh quan.
dựng các bản cảnh quan huyện đồ hợp phần - Đặc điểm cảnh - Các bản đồ chuyên đề và bản đồ cảnh Quảng Ninh và bản đồ quan và các tiểu quan huyện Quảng Ninh (1/50 000) cảnh quan vùng cảnh quan - Hệ thống phân vị và sự phân hóa cảnh huyện Quảng Ninh - Hệ phƣơng quan theo đơn vị kiểu loại và tiểu vùng pháp nghiên - Chức năng tự nhiên và động lực các cứu cảnh quan tiểu vùng cảnh quan 3 Chƣơng Đánh giá cảnh - Xác định chức năng tự nhiên và kinh - Đánh giá 3 quan nhằm xác tế xã hội của các tiểu vùng cảnh quan, thích nghi - Đánh giá cảnh định mức độ các lớp, phụ lớp cảnh quan sinh thái các quan cho nông, lâm, thuận lợi của cảnh quan du lịch - Kết quả đánh giá cảnh quan cho: nông cảnh quan cho nghiệp, lâm nghiệp (phòng hộ và rừng phát triển nông, sản xuất), xói mòn, du lịch (bãi tắm và lâm nghiệp và du du lịch mạo hiểm) lịch - Các bản đồ đánh giá thích nghi 4 Chƣơng Hoạch định các - Cơ sở định hƣớng - Mô hình liên kết và quản trị vùng - Phân tích và 4 không gian phát tổ chức không gian trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi tổng hợp tài triển nông, lâm phát triển kinh tế xã trƣờng huyện Quảng Ninh liệu nghiệp, du lịch hội gắn với bảo vệ - Định hƣớng tổ chức không gian phát - Phƣơng pháp và sử dụng hợp môi trƣờng huyện triển kinh tế, sử dụng hợp lý nguồn tài điều tra nhanh lý tài nguyên Quảng Ninh nguyên và bảo vệ môi trƣờng Huyện nông thôn huyện Quảng - Định hƣớng tổ Quảng Ninh (theo các tiểu vùng) Ninh chức không gian - Đề xuất mô hình hệ kinh tế sinh thái phát triển nông, lâm bền vững trên đất cát ven biển huyện nghiệp, du lịch Quảng Ninh - Mô hình hệ kinh tế sinh thái nông hộ trên vùng cát ven biển 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CƢ́U 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về cảnh quan Cảnh quan đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ nhƣ kiến trúc, bảo tồn, du lịch và địa lý,.
Tuy nhiên, nghiên cứu cảnh quan phục vụ cho tổ chức lãnh thổ và sử dụng hợp lý tài nguyên, luận án đề cập chủ yếu tới các công trình nghiên cứu cảnh quan theo tiếp cận địa lý học. 1) Các công trình nghiên cứu về cảnh quan trên thế giới a) Nhận thức về cảnh quan và địa hệ thống * Cảnh quan đƣợc hiểu là phong cảnh Vào đầu thế kỷ XIX, tại hầu hết các nƣớc phƣơng Tây “cảnh quan” đƣợc sử dụng với nghĩa là “phong cảnh”. Quan niệm này hiện đang đƣợc sử dụng trong một số lĩnh vực nhƣ quy hoạch đô thị và du lịch. * Cảnh quan đƣợc hiểu nhƣ một địa hệ thống Vào thế kỷ XX, ở Nga, các nƣớc thuộc Liên Xô cũ và một số nƣớc khác nhƣ Ba Lan, Tiệp, Đức, cảnh quan đƣợc xem nhƣ các tổng thể địa lý (Địa hệ thống).
Cuối thế kỷ XX, cảnh quan học thực sự hình thành, phát triển tại hai nƣớc Nga, Đức và dần trở thành một ngành khoa học độc lập. Sau chiến tranh thế giới thứ II, ngành khoa học này trở nên khá phổ biến trên thế giới nhất là các nƣớc Tây Âu nhƣ: Tây Đức (cũ), Áo, Thụy Điển và một số nƣớc nói tiếng Anh nhƣ Mỹ, Anh, Úc, Canada, nhƣng chủ yếu mang tính ứng dụng. Học thuyết về cảnh quan là lý luận về tổng thể địa lý và các đới tự nhiên của Trái Đất. Năm 1889, khái niệm “cảnh quan” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa một cách khoa học bởi Hulmbold [4].
Dƣới góc độ địa lý học của trƣờng phái Xô Viết (gồm các nhà địa lý Xô Viết), “cảnh quan” đƣợc hiểu theo 3 quan niệm khác nhau: - Quan niệm xem cảnh quan là khái niệm chung: Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên của một cấp bất kỳ. Minkov là ngƣời đề xuất quan điểm này và đã đƣợc D. Prokaev,… ủng hộ tích cực. Tổng hợp thể tự nhiên (hay địa tổng thể tự nhiên) đƣợc coi là một hệ thống không gian và thời gian của các hợp phần địa lý có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân bố và phát triển nhƣ một thể thống nhất (Ixatrenko,1991, tr.
- Quan niệm xem cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại: Cảnh quan không phải là một lãnh thổ riêng biệt, mà là tập hợp một số tính chất chung điển hình cho khu vực này hay khác, không phụ thộc vào đặc điểm phân bố của chúng. Quan điểm này đƣợc thấy trong các công trình của B.Gvozdexky,… - Quan niệm xem “cảnh quan” là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, thể hiện sự tác động tƣơng hỗ giữa các hợp phần tự nhiên trong lãnh thổ xác định. Nhà địa lý đề xuất 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan điểm này là L. Berg, sau đó là A.
Theo quan niệm này: “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một hợp phần cảnh quan, một cảnh quan hay nói chung là một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trƣng bằng sự thống nhất cả tƣơng quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng” (A. Nhƣ vậy, cảnh quan đƣợc xem xét đồng thời cả 3 khía cạnh: chung, kiểu loại và cá thể (Shishenko P. Mặc dù, còn tồn tại các quan niệm khác nhau về cảnh quan, nhƣng các nhà địa lý theo trƣờng phái Xô Viết đều thống nhất coi “cảnh quan” là một thực thể tự nhiên, là các“tổng hợp thể tự nhiên” ở các cấp khác nhau. Cảnh quan đƣợc nghiên cứu không chỉ theo đặc điểm hình thái mà cả cấu trúc, chức năng (chức năng tự nhiên, chức năng kinh tế - xã hội) và động lực cảnh quan.
Cách tiếp cận và nhận thức về cảnh quan sẽ là nguồn tri thức để lựa chọn và sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu hợp lý cho lãnh thổ cụ thể. b) Hệ thống phân vị trong phân loại cảnh quan Cùng với sự ra đời của các học thuyết cảnh quan, các hệ thống phân vị cảnh quan cũng đƣợc đi sâu nghiên cứu. Tùy theo quan niệm của mỗi ngƣời và lãnh thổ nghiên cứu mà hình thành các hệ thống phân vị khác nhau. Một số hệ thống phân vị đƣợc kể đến nhƣ: hệ thống phân vị của các đơn vị đồng phụ thuộc (A.
Ixatxenko, 1976) với 8 đơn vị phân loại (nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại); hệ thống phân loại của N. Ngoài ra, có nhiều hệ thống phân loại khác nhƣ: hệ thống phân loại cảnh quan của Nhicolaev, B. Sự khác biệt giữa các hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả là vị trí cấp phân vị và dấu hiệu phân loại. Tuy nhiên, một số cấp phân vị và dấu hiệu nhận chúng có quan niệm gần giống nhau, cụ thể là: lớp, phụ lớp, loại cảnh quan, dƣới loại cảnh quan là các đơn vị hình thái (dạng và diện cảnh quan).
c) Hệ thống phân vị trong phân vùng cảnh quan Phân vùng địa lý tự nhiên đƣợc chia thành 2 loại: Phân vùng địa lý tự nhiên bộ phận (ví dụ: phân vùng địa mạo, phân vùng thổ nhƣỡng, phân vùng khí hậu,.) và phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp hay còn gọi là phân vùng cảnh quan (Prokaep, 1971)[50]. Trong đó, phân vùng cảnh quan giúp nghiên cứu một cách đầy đủ và tổng hợp nhất các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đồng thời là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà quy hoạch đƣa ra các phƣơng án, kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên. Do tính phức tạp và khác biệt của từng lãnh thổ nghiên cứu nên trƣớc khi phân vùng cảnh quan các nhà địa lý cần xây dựng các hệ thống phân vị phù hợp với lãnh thổ đó. Hiện nay, hệ thống phân vị trong phân vùng cảnh quan đƣợc chia thành các nhóm sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hệ thống phân vị sắp xếp theo tính địa đới và phi địa đới ở cấp cao (A.
Ví dụ, hệ thống phân vị của Parmuzin (1958): Vòng đai - Xứ - Đới - Khu - Á đới - Miền - Đai - Vùng - Cảnh quan địa lý - Hệ thống phân vị dựa vào tính đới và tính phi địa đới (T.G Ixatrenko, 1953, 1961, 1991): Đới - Xứ - Miền - Vùng (cảnh quan). Hệ thống phân vị này không có sự luân phiên giữa các đơn vị mang tính địa đới, phi địa đới. - Hệ thống phân vị dựa vào tính phi địa đới tự nhiên: hoàn toàn loại bỏ các quy luật địa đới trong phân hóa cảnh quan: Lục địa - Xứ - Miền – Vùng (I.