Nghiên cứu các chu tố của động từ tiếng Việt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay các chu tố của động từ tiếng việt trên cứ liệu truyện ngắn chọn lọc nguyễn công hoan, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

99
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về chu tố của động từ trong tiếng Việt

1.2. Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.2.1. Vài nét về lí thuyết kết trị

1.2.2. Khái niệm diễn tố, chu tố

1.2.3. Những đặc điểm cơ bản của chu tố

1.2.4. Mối quan hệ (sự tương ứng) giữa chu tố với trạng ngữ và vai nghĩa

1.2.5. Các kiểu chu tố

1.2.6. Vài nét về Nguyễn Công Hoan và Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan

1.2.7. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ PHÁP

2.1. Kết quả khảo sát

2.1.1. Về số lượng

2.1.2. Về kiểu loại

2.2. Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt cách biểu hiện

2.2.1. Chu tố được biểu hiện bằng thể từ (danh từ, cụm danh từ, đại từ)

2.2.2. Chu tố được biểu hiện bằng vị từ, cụm vị từ

2.3. Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt phương thức kết hợp

2.3.1. Chu tố kết hợp gián tiếp với vị ngữ hoặc vị từ

2.3.2. Chu tố kết hợp trực tiếp với vị ngữ hoặc vị từ

2.4. Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt vị trí

2.4.1. Các vị trí mà chu tố chiếm giữ trong câu

2.4.2. Khả năng cải biến vị trí của các chu tố trong câu

2.5. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG

3.1. Chu tố của động từ xét về mặt ngữ nghĩa

3.1.1. Vai trò ngữ nghĩa của chu tố trong câu

3.1.2. Các kiểu chu tố của động từ xét về mặt ngữ nghĩa

3.2. Chu tố của động từ xét về mặt ngữ dụng

3.2.1. Vai trò của chu tố trong việc tham gia tạo lập cấu trúc đề thuyết của câu

3.2.2. Chu tố trong vai trò tạo lập cấu trúc thông tin của câu

3.3. Tiểu kết

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chu tố động từ tiếng Việt

Nghiên cứu về chu tố động từ tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Đặc biệt, việc phân tích các tác phẩm văn học như truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan giúp làm sáng tỏ các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của chu tố. Các công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng chu tố không chỉ là thành phần cú pháp mà còn có vai trò quan trọng trong việc tạo lập ý nghĩa cho câu.

1.1. Định nghĩa và vai trò của chu tố trong câu

Chu tố được hiểu là thành phần phụ trong câu, có khả năng bổ sung ý nghĩa cho vị ngữ. Theo quan niệm truyền thống, chu tố có thể là trạng ngữ hoặc bổ ngữ tự do, thể hiện các ý nghĩa như thời gian, địa điểm, nguyên nhân.

1.2. Tình hình nghiên cứu chu tố động từ trong tiếng Việt

Nhiều công trình đã nghiên cứu về chu tố động từ nhưng chưa có nhiều khảo sát chuyên sâu. Việc nghiên cứu theo hướng này sẽ góp phần làm rõ hơn các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của chu tố trong các tác phẩm văn học.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu chu tố động từ

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chu tố động từ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định và phân loại chúng. Các tác giả thường gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa chu tố và các thành phần khác trong câu. Điều này dẫn đến sự không nhất quán trong các quan điểm nghiên cứu.

2.1. Khó khăn trong việc phân loại chu tố

Việc phân loại chu tố thành các nhóm khác nhau như trạng ngữ, bổ ngữ tự do vẫn còn gây tranh cãi. Nhiều tác giả chưa đưa ra được tiêu chí rõ ràng để phân biệt chúng.

2.2. Sự không nhất quán trong quan điểm nghiên cứu

Các quan điểm khác nhau về chu tố trong tiếng Việt dẫn đến sự khó khăn trong việc tổng hợp và áp dụng các lý thuyết vào thực tiễn. Điều này cần được giải quyết để có cái nhìn toàn diện hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu chu tố động từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Để nghiên cứu chu tố động từ, phương pháp miêu tả và phân tích được áp dụng. Việc khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan giúp làm rõ các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của chu tố trong ngữ cảnh cụ thể.

3.1. Phương pháp thống kê và phân loại

Sử dụng phương pháp thống kê để thu thập dữ liệu về chu tố trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan. Dữ liệu này sẽ được phân loại theo các tiêu chí ngữ pháp và ngữ nghĩa.

3.2. Phân tích ngữ nghĩa của chu tố

Phân tích ngữ nghĩa của chu tố trong các câu văn cụ thể giúp làm rõ vai trò của chúng trong việc tạo lập ý nghĩa cho câu. Điều này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả.

IV. Kết quả nghiên cứu chu tố động từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Kết quả nghiên cứu cho thấy chu tố động từ trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan rất phong phú và đa dạng. Các chu tố không chỉ thể hiện ý nghĩa ngữ pháp mà còn mang lại chiều sâu cho nội dung câu.

4.1. Đặc điểm ngữ pháp của chu tố

Chu tố trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan thường được biểu hiện bằng danh từ hoặc cụm danh từ, thể hiện rõ vai trò ngữ pháp trong câu.

4.2. Ý nghĩa ngữ nghĩa của chu tố

Chu tố không chỉ bổ sung thông tin mà còn tạo ra các sắc thái ý nghĩa khác nhau, góp phần làm phong phú thêm nội dung câu văn.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu chu tố động từ tiếng Việt

Nghiên cứu về chu tố động từ tiếng Việt qua truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan không chỉ làm rõ các đặc điểm ngữ pháp mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà ngôn ngữ học. Việc hiểu rõ hơn về chu tố sẽ giúp cải thiện việc dạy và học ngôn ngữ trong nhà trường.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chu tố động từ có vai trò quan trọng trong việc tạo lập ý nghĩa cho câu, đồng thời thể hiện sự phong phú của ngôn ngữ Việt Nam.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về chu tố trong các tác phẩm văn học khác để có cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ Việt Nam.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay các chu tố của động từ tiếng việt trên cứ liệu truyện ngắn chọn lọc nguyễn công hoan

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về chu tố của động từ trong tiếng Việt Chu tố của động từ được nói đến ở đây được nhìn từ góc độ lí thuyết kết trị và là thành tố cú pháp vừa có sự tương ứng nhất định với trạng ngữ (gia ngữ, bổ ngữ của câu, thành phần tình huống của câu), vừa có sự tương ứng với trạng ngữ hay bổ ngữ tự do của động từ theo cách hiểu truyền thống. Đây là một trong những thành phần cú pháp xuất hiện phổ biến trong câu và từ lâu đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt theo quan niệm truyền thống với các tên gọi như trạng ngữ, gia ngữ, bổ ngữ của câu, thành phần tình huống và bổ ngữ tự do của vị từ.

Trong việc nghiên cứu về trạng ngữ (mà theo quan niệm truyền thống được coi là thành phần phụ bổ sung cho cụm chủ vị nòng cốt của câu), một số vấn đề được giải quyết khá tốt và đạt được sự nhất trí tương đối cao như: vai trò cú pháp của trạng ngữ trong câu, đặc điểm ý nghĩa, hình thức của trạng ngữ. Tuy nhiên, cũng còn những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng. Dưới đây, chúng tôi xin nêu khái quát tình hình nghiên cứu về trạng ngữ và bổ ngữ tự do của vị từ (theo cách hiểu truyền thống) trong tiếng Việt. Về bản chất cú pháp của chu tố (trạng ngữ của câu, bổ ngữ tự do của vị từ) a.

Theo quan niệm truyền thống: Hầu như các tác giả Việt Nam theo khuynh hướng truyền thống đều cho rằng trạng ngữ là thành phần thứ yếu hay thành phần phụ của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu. Nguyễn Kim Thản cho rằng: "trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa về thời điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, hay tình thái” [45, 565]. Phân biệt trạng ngữ với bổ ngữ tự do của vị từ, ông cho rằng trạng ngữ “là thành phần phụ thêm vào cho cả câu…sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào một từ nào, cũng không phụ thuộc vào loại hay tiểu loại của từ nào” [45, 521]; còn "bổ ngữ thời hạn thì phụ thuộc vào vị từ” [45, 565]. Hoàng Trọng Phiến cũng coi trạng ngữ "là thành phần thứ yếu của câu, có ý nghĩa địa điểm, không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích” [39, 124].

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tập thể các tác giả (Trung tâm Khoa học xã hội Việt Nam) gọi trạng ngữ là "thành phần tình huống" và cho rằng "thành phần này có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho cả nòng cốt câu” và "nó là một thành phần thứ yếu so với các thành phần chủ yếu trong nòng cốt” [57, 239]. Diệp Quang Ban gọi trạng ngữ là "bổ ngữ của câu" và quan niệm "bổ ngữ của câu là những thành phần phụ của câu nêu lên cái hoàn cảnh trong đó diễn ra sự việc nói ở nòng cốt câu” [2, 180]. Chủ trương phân biệt thành phần phụ của câu với thành phần phụ của từ, ông cho rằng: "thành phần phụ của câu có tính chất tự lập tương đối về mặt ngữ pháp, tức là nó không phụ thuộc về mặt cú pháp vào yếu tố ngôn ngữ nào trong nòng cốt mà có quan hệ cú pháp với toàn bộ nòng cốt câu” [2, 175]. Hai tác giả Bùi Minh Toán - Nguyễn Thị Lương trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt" cho rằng "trạng ngữ là thành phần phụ của câu, biểu thị các ý nghĩa thời gian, nơi chốn, phương tiện, cách thức, mục đích, nguyên nhân…của sự tình được nêu ra trong câu” [56, 122].

"Cấu tạo của trạng ngữ khá đa dạng, nó có thể là một từ, một cụm từ, tổ hợp từ” [56, 126]. Trạng ngữ với tư cách là thành phần phụ của câu, có quan hệ cú pháp và ý nghĩa với nòng cốt câu như quan niệm trên đây được phân biệt với bổ ngữ tự do (bổ tố, trạng tố) của vị từ. Các tác giả đều cho rằng việc phân biệt thành phần phụ của câu nói chung, trạng ngữ nói riêng, với thành phần phụ của từ, trong đó có bổ ngữ tự do của vị từ là vấn đề phức tạp và sự phân biệt này không phải bao giờ cũng "thật rạch ròi được”. Thực tế cũng cho thấy đến nay, hầu như cũng chưa có tác giả nào đưa ra được sự phân biệt rạch ròi, thật sự có sức thuyết phục hai kiểu thành tố cú pháp này.

Theo Nguyễn Văn Hiệp, các tiêu chí cho phép phân biệt trạng ngữ với các thành tố phụ thuộc cấu trúc bậc dưới câu của vị từ là: + Quan hệ phụ thuộc với nòng cốt câu. + Khả năng cải biến vị trí mà không làm thay đổi quan hệ giữa các thành tố còn lại trong câu. Tác giả cho rằng có thể dùng thủ pháp chen một thành tố đồng vị đã xác định chức năng để thấy được quan hệ phụ thuộc vào nòng cốt câu của trạng ngữ và phân biệt nó với bổ tố tự do của vị từ. Cùng với thủ pháp chen một yếu tố đồng vị, thủ pháp cải biến vị trí cũng được tác giả sử dụng để chỉ ra sự khác biệt giữa trạng ngữ và bổ tố của vị từ [21, 209-222].

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các quan niệm khác: Ngoài quan niệm phổ biến trên, cần phải kể đến ý kiến của tác giả V.Panfilov trong cuốn Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt. Tác giả cho rằng: “trạng ngữ là yếu tố mở rộng tự do của vị ngữ, có ý nghĩa sự kiện và có khả năng thay thế bằng mệnh đề phụ” [38, 315]. Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến cũng cho rằng "trạng ngữ chính là thành phần phụ của câu thể hiện kết trị tự do của vị từ (hoặc trạng ngữ là chu tố của vị từ)… Mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ với vị từ (vị ngữ) được khẳng định bởi sự có mặt đồng thời của cả mối quan hệ ý nghĩa lẫn mối quan hệ hình thức giữa chúng (khả năng dùng độc lập của tổ hợp do chúng tạo thành)” [54, 60].

Nhận xét về quan niệm truyền thống đối với trạng ngữ, tác giả Nguyễn Mạnh Tiến còn cho rằng "việc xác định nội dung và hình thức của trạng ngữ (có quan hệ cú pháp với nòng cốt của câu, có tính biệt lập về hình thức và khả năng cải biến vị trí) cũng như việc dựa vào những đặc điểm đó để phân biệt nó với bổ ngữ tự do của vị từ, qua đó, khẳng định sự đối lập về bản chất giữa hai kiểu thành tố cú pháp này mặc dù có những cơ sở nhất định nhưng nhìn chung chưa được luận giải một cách thật sự có sức thuyết phục dựa vào một quan niệm rõ ràng, nhất quán về quan hệ cú pháp và thành phần cú pháp của câu” [54, 51]. Qua các quan niệm trên, có thể thấy về tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ với bộ phận còn lại của câu, đến nay, có hai quan niệm chính: 1/ coi trạng ngữ là thành phần phụ của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu; 2/ coi trạng ngữ là thành phần phụ mở rộng tự do của vị ngữ hay vị từ. Theo tác giả Nguyễn Văn Lộc, để xác định bản chất của mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ và các thành tố khác của câu “cần phải dựa vào khái niệm quan hệ cú pháp và cách xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ (cụm từ) trong câu’’ (theo đó, “hai từ, cụm từ được coi là có quan hệ cú pháp với nhau nếu giữa chúng có thể xác định một kiểu quan hệ ngữ nghĩa nhất định và ngữ đoạn chứa chúng có khả năng hoạt động độc lập hoặc tư cách biến thể tỉnh lược của câu”)[30, 343]. Với cách hiểu về quan hệ cú pháp, cách xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ như đã chỉ ra, có cơ sở để cho rằng trạng ngữ, về bản chất cú pháp, là thành tố phụ không bắt buộc của vị ngữ (vị từ) hoặc "là yếu tố mở rộng tự do của vị ngữ” [30, 343].

Cụ thể: Về nội dung, trạng ngữ đều bổ sung cho vị ngữ hay vị từ một 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ý nghĩa nhất định. Về hình thức, trạng ngữ có thể cùng với vị ngữ hay vị từ tạo thành một tổ hợp dùng độc lập hoặc dùng với tư cách là biến thể tỉnh lược của câu [30, 346]. Chúng tôi cho rằng đây là quan niệm có cơ sở. Về đặc điểm nội dung của chu tố (trạng ngữ truyền thống) Về đặc điểm nội dung của chu tố (trạng ngữ), các tác giả có ý kiến tương đối thống nhất.

Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “…trạng ngữ biểu thị những ý nghĩa về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện…cho sự tình được biểu đạt trong câu” [21, 206]. Nhận xét về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa thành phần phụ của câu (trong đó có trạng ngữ) với các từ ngữ còn lại của câu, Diệp Quang Ban viết: "Về mặt nghĩa, bộ phận nằm ngoài nòng cốt này có thể liên hệ rõ rệt với một yếu tố nào đó trong nòng cốt câu” [3, 177]. Về ý nghĩa cụ thể của trạng ngữ, tác giả xác định các kiểu chính như: trạng ngữ không gian, thời gian, tình hình, nguyên nhân, mục đích, nhượng bộ…[3, 179]. Nguyễn Kim Thản cũng cho rằng: "Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa thời điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hay tình thái” [45, 565].

Tác giả còn chỉ rõ: "Khi đặt ở cuối câu, trạng ngữ có tác dụng miêu tả hoàn cảnh tiến hành của hoạt động hay trạng thái biểu thị trong bộ phận vị ngữ” [45, 569] hoặc "Trạng ngữ thời gian thường đặt ở đầu câu. Nó có thể biểu thị thời điểm cụ thể của đặc trưng (do vị ngữ biểu thị)…” [45, 565]. Đề cập đến đặc điểm nội dung của trạng ngữ, Nguyễn Văn Lộc cho rằng: Về nội dung, trạng ngữ có ba đặc điểm chính: tính phụ thuộc, tính không bắt buộc (tự do) và ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh (chỉ không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích, công cụ, tính chất, cách thức…) [30, 348]. Về đặc điểm hình thức của chu tố (trạng ngữ truyền thống) a.

Về cấu tạo (cách biểu hiện) Hầu hết các tác giả đều cho rằng trạng ngữ có thể được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ) hoặc vị từ (cụm vị từ, cụm chủ vị).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu chu tố động từ tiếng Việt qua truyện ngắn Nguyễn Công Hoan" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức sử dụng động từ trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Nghiên cứu này không chỉ phân tích cấu trúc ngữ pháp mà còn khám phá ý nghĩa và tác động của động từ trong việc xây dựng nhân vật và tình huống trong truyện. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ chu tố động từ không chỉ giúp nâng cao khả năng viết lách mà còn làm phong phú thêm khả năng cảm thụ văn học.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngữ pháp tiếng Việt, bạn có thể tham khảo tài liệu Đề tài thành phần phụ của câu tiếng việt nhìn từ góc độ kết trị của từ, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về các thành phần trong câu. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh nhận xét về việc giới thiệu ngữ pháp tiếng việt trong sách giáo khoa phổ thông từ góc độ dạy bản ngữ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách ngữ pháp được giảng dạy trong hệ thống giáo dục. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ câu bị động và nghĩa bị động trong tiếng việt sẽ cung cấp thêm thông tin về một khía cạnh quan trọng khác của ngữ pháp tiếng Việt. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về ngôn ngữ.