CHƯƠNG 1: CHÚ ĐẠI BI VÀ VĂN BẢN ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI LINH CHÚ Tiểu dẫn: Chương này nhằm khái quát mang tính nhận thức về Chi: Đại Bi như: #šKINH va CHU trong kinh (#5 JA SBS bE AEE Phat Dinh Tôn Thang Đà La Ni kinh; việc dịch KINH#va CHU DAI BIXEE Tésang Hán van làm cơ sở cho việc giới thiệu văn bản “AdE > BE AE JE BE JUĐại Bi Tam Da La Ni Linh Chú” mang kí hiệu AC. 469 tại Kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Han Nôm. Chú Dai Bi trong Kinh Phật đỉnh Tôn Thang Đà La Ni Chu Đại Bi (KAS 5tDai Bi chú) hay Dai Bi Tâm Đà La Ni Linh Chú X51 È AEE S250 là phần chú7ÿtrong kinh (i TAR IBS RE AE JERS Phật Dinh Tôn Thang Đà La Ni kinh. Về gốc tích của kinh nay, GS.
Hà Văn Tan trong bai viết Cot kinh Phật Hoa Lư thứ nhất (973) có viết: “Có thê tóm tắt kinh Phật đỉnh Tôn Thắng Đà la nỉ như sau: Có ông vua tên là Thiện Trú (Supratisthita), song xa xi hưởng lạc, một đêm nọ nghe có tiếng nói trong không trung báo cho biết bảy ngày nữa ông ta sẽ chết, sau đó sẽ hóa kiếp bảy lần thành các thú vật (lợn, chó, cáo, khi, ran độc, chim thứu, qua) rồi phải chịu khổ hình ở địa ngục, có thành người cũng mù hai mắt. Thiện Trú hoảng sợ, cầu cứu với Đề Thích (Sakrradevannam Indra). Đề Thích đến kêu xin đức Phật bấy giờ đang ở thành Xá vệ. Sau khi tỏa ánh hào quang, Phật mỉm cười nói cho Đề Thích biết răng có một bài thần chú, gọi là “Phật đỉnh Tôn Thắng Đà la ni”, có thé trừ được mọi khổ não sinh tử, mọi ác nghiệp tiền kiếp và mọi khổ hình địa ngục.
Niệm bai da — la — ni đó còn được tăng tudi thọ, được các thiên thần bảo vệ và các Bồ tát phù hộ. Sau đó, Phat đã đọc bài chú cho Dé Thích, dé ông ta truyền lại cho Thiện Tru và phổ biến cho chúng sinh”. (Hà Văn Tan, 2019, trang 89) Có thé coi đó là một cách diễn đạt cho đơn giản hóa mà qua đó chúng ta có thé hiểu rằng, Chú Đại Bi Da La Ni (hay nói gọn hơn: Chu Đại Bi) theo quan niệm Phật giáo là Thân Chú có thê trừ được mọi khô não sinh tử, mọi ác nghiệp tiên kiép va 12 mọi khổ hình địa ngục. Niệm bài đà — la — ni đó còn được tăng tuổi thọ, được các thiên thần bảo vệ và các Bồ tát phù hộ.
Ta cũng có thể năm bắt vấn đề trên qua bản dịch Thiên thủ Thiên nhãn Quán Thé Âm Bo Tat Quảng đại Viên mãn Dai Bi Tâm Đà la ni kinh® trong đó có phần dich âm Chu Đại Bi. Theo đó, Chu Đại Bi là một bộ phận trong kinh Thiên thu Thiên nhấn Quan Thé Âm Bo Tát Quảng đại viên mãn Đại bi tâm Đà La Ni do ngài A Nan tôn giả kết tập. Bồi cảnh tuyên kinh của kinh này cũng có điểm giống với bối cảnh tuyên kinh của Bát Nhã Tâm kinh. Theo đó, kinh có ngôi của người kể chuyện (tức ngài A Nan Tôn giả) kế rằng, “Một thời, lúc đức Phật Thích Ca Mau Ni ngự nơi đạo trang Bao Trang Nghiêm, trong cung điện của của Quán Thế Âm Bồ Tát ở tại non Bồ Đà Lạc Ca, đức Phật ngồi nơi tòa sư tử, tòa này trang nghiêm thuần bằng vô lượng ngọc báu tạp ma ni, xung quanh treo nhiều tràng phan bá bảo.
Khi ấy, đức Như Lai ở trên pháp tòa, sắp muốn diễn nói môn tổng trì Đà ra ni, có vô lượng số Bồ Tát ma ha tát câu hội, các vị ay la: Tong Tri Vuong Bồ Tát, Bảo Vương Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Đại Trang Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tat, Di Lac Bồ Tát, Phé Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,. Những vị Bồ Tát như thế đều là những bậc quán danh đại pháp vương tử. Lại có vô lượng vô số đại Thanh văn đều là các bậc A La Hán thu hạnh thập địa câu hội””. “Bấy giờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở trong đại hội, mật phóng ánh thần thông quang minh, chiếu sáng mười phương sát độ và cõi tam thiên đại thiên thế giới này đêu thành sắc vàng.
Từ Thiên cung, Long cung cho đên cung điện của các vi tôn Thích Thiền Tâm (dịch) Thiên thủ Thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng đại Viên mãn Dai Bi Tâm Đà la ni kinhBan dịch Hán văn của Sa môn Da Phạm Dat Ma người xứ Thiên Trúc đăng trên ht(p:/www.au/kinhdien-2/37 Ithienthuthiennhan.html, truy cập ngày 23 thang 6 năm 2021. 7 Thích Thiền Tâm (dich) Thiên thú Thiên nhãn Quán Thế Âm Bỏ Tat Quảng đại Viên mãn Đại Bi Tâm Da la nỉ kinhBan dịch Hán văn của Sa môn Da Phạm Dat Ma người xứ Thiên Trúc dang trên http://www.au/kinhdien-2/37 Ithienthuthiennhan.html, truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2021. Các câu trích ở đây về kinh này đều được trích từ đây. 13 thần đều chan động.
Biển cả, sông nguồn, núi Thiết Vi, núi Tu Di, cùng thé sơn, hắc son cũng đều rung động dữ dội. Anh sáng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, và châu báu đều bị ánh kim quang rực rỡ kia lan at làm cho an mat không hiệnŠ”. Điều đó khiến cho ngài Tổng Trì Vương Bồ Tat lay làm lạ lùng mà cung kính chắp tay dâng kệ thỉnh vấn đức Phật. Đức Phật nói với chư vị rằng, trong pháp hội này, “có vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu tâm đại từ bị, lại khéo tu tập vô lượng Đà la ni môn.
VỊ Bồ Tát ay vì muốn làm cho chúng sinh được lợi ích an vui nên mới mật phóng sức than thông như thế”. Vì thế, Quán Thế Âm Bồ Tát trang nghiêm xin Đức Thế tôn cho phép mình được nói chú Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngai Dai Bi Tâm Đà La Ni vì Quán Thé Âm đã được Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai từ vô lượng ức kiếp trước xoa đầu nói Chú ay cho. Ngài nói, “Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại Bi Tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ được tất cả các bịnh, được sống lâu, được giàu có, diệt được tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cau. Cui xin Thế Tôn từ bi doãn hứa”.
Được Đức Thế Tôn cho phép, Quán Thế Am chap tay đứng thăng, thưa Đức Thế Tôn rằng, “nhớ vô lượng ức kiếp về trước, có Phật ra đời, hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai, đức Phật vì thương nghĩ đến tôi và tất cả chúng sanh nên đã nói ra môn Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngai Dai Bi Tâm Đà Ra Ni''”. Nhờ thụ trì phép đó, Quán Thế Âm chứng vượt lên bát địa và phát lời thệ nguyện nếu trong đời vị lai mà mang an lạc cho tất cả chúng sinh thì ngàn tay ngàn mắt đều hiện đủ nơi thân, được ở trong vô lượng pháp hội của vô lượng chư Phật, vượt qua sự sinh tử tế vi trong vô số ức kiếp. Nếu chúng sanh nao, trong một ngày một đêm tụng niệm năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trước chúng hội “chắp tay đứng thăng, nở Š Như trên.
° Như trên '° Như trên. 14 mặt mỉm cười, nói chương cú mau nhiệm Quảng Đại Viên Mãn V6 Ngai Dai Bi Tâm Đà Ra Ni băng Phạn ngữ mà ở bản dịch âm ra Hán văn dài 415 lần chữ Hán. Nghe xong, Đức Phật cũng nói, Thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát nói ra ở đây chân thật, không dối. Ngài khuyên tất cả hãy tụng Thần chú trong áo mà mặc, trong nước mà uống, thức ăn, chất thơm, được phẩm mà dùng để được trường sinh, được thành tựu, được hiệu quả.
Khi Ngài A Nan với tư cách là người kết tập kinh thỉnh vấn đức Phật răng, Chii này tên gọi là chi, thì “Đức Phật bảo: Thần chú ấy có các tên như: “Quảng Dai Viên Man Da la ni; Vô ngại Đại bi Đà la ni; Cứu khổ Đà la ni; Diên thọ Đà la ni; Diệt ác thu Đà la ni; Pha ác nghiệp chướng Da la ni; Mãn nguyện Đà la ni; Tùy tâm tự tại Đà la nỉ: Tốc siêu thánh địa Đà la ni”. Theo đó, Chú Dai Bi có đến chín loại tên ca thay. Có thé nói, bối cảnh tuyên kinh, tuyên chú, người tuyên kinh tuyên chú của kinh Thiên thủ Thiên nhãn Quán Thế Âm Bo Tát Quảng Đại Viên Man Dai bi tâm Đà La Ni cũng giỗng như bối cảnh tuyên kinh của Bat Nhã Tâm kinh. Cả hai đều là Đại Thần chú, Đại Minh chú, đều do Quán Tự Tại nói ra sau khi được Đức Thế Tôn cho phép.
Có lẽ đây là một trong những lý do cho việc in Áš2?2ù#ãȇĊBát Nhã Tâm Kinh chú thíchvà KARE AEB 5CDai Bi Tâm Đà La Ni linh chú ở chùa Địa Linh, phường Tây Hồ, tỉnh Hà Nội vào khoảng thời gian cách đây gan hai trăm năm cũng như việc cả hai được đóng chung vào thành một hợp tập như ở dạng văn bản hiện nay — AC. 469 đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Van đề dịch Chi Đại Bi sang tiếng Hán Các kinh điển Phật giáo nói chung đó đã được dịch sang tiếng Hán cùng với sự du nhập va phát triên của Phat giáo vào Trung Quoc với sự đóng góp của các nhà '*Thiên thi Thiên nhãn Quán Thế Am Bo Tát Quảng đại Viên mãn Đại Bi Tâm Đà la nỉ kinhBan dich Hán văn của Sa môn Dà Phạm Đạt Ma người xứ Thiên Trúc, Thích Thiền Tâm dịch ra Việt văn, đăng trên http://www.au/kinhdien-2/37 Ithienthuthiennhan.html, truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2021. Các câu trích ở đây về kinh này đều được trích từ đây.
15 truyền giáo nước ngoài va sau đó mới có sự tham gia của người Trung Quốc° Chang hạn, ở thời Hán Minh Đế, các nhà sư Thiên Trúc như Ca Diếp Ma Đăng, Trúc Pháp Lan đã dịch Kinh Tứ Thập nhị chương. Thời Ngụy Van Đề có Chi Khiêm (223 -253), Chi Sam. Trong khoảng thời gian từ thế ky thứ IV đến thé ky thir VIII có nhiều nhà phiên dịch kinh Phật trong đó 4 vi: 13#Š#È{[Cưu Ma La Thập (344-413), Hii Chân Dé (499-569), %X3š Huyền Trang(602-664), 4*2šBất Không (705-774) là những nhà phiên dịch có ảnh hưởng lớn nhất.