Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tỉnh Bình Định 1. Điều kiện tự nhiên a) Vị trí địa lý Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có độ hẹp từ 50km đến 60km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10'' Bắc, 108°55'4'' Đông), phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10'' Bắc, 108°54'00'' Đông).
Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn (có tọa độ: 13°36'33” Bắc, 109°21'00'' Đông) [11]. Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào [2]. b) Thủy văn Sông ngòi ở Bình Định mang đặc tính của hệ thống sông vùng Nam Trung Bộ. Độ dốc của các dòng sông cao, với chiều dài ngắn, hàm lượng phù sa rất thấp.
Trên địa bàn tỉnh có 4 sông lớn là: Sông Kone, sông Lại Giang, sông La Tinh và sông Hà Thanh. Sông Kone, sông Hà Thanh đổ vào đầm Thị Nại, sông La Tinh đổ vào đầm Đề Gi, sông Lại Giang đổ ra cửa An Dũ. Về mùa khô nước ở các con sông đều bị cạn, dòng chảy yếu, về mùa mưa dòng chảy xiết mang phù sa và cát lấp đầy cửa sông. Do các con sông hàng năm bị bồi đắp bởi các trầm tích lắng đọng và đất đá bị rửa trôi từ các dãy núi đổ xuống, kết hợp với dòng nước yếu không thể đẩy các chất phù sa lắng đọng này ra biển làm giảm khả năng thoát lũ trong mùa mưa bão và tưới tiêu trong mùa khô, đồng thời cảnh báo về tiềm năng thuỷ sản bị cạn kiệt, nhất là các loài cá quý hiếm (như cá chình, đặc biệt chình mun) do bị cắt đứt mắt xích trong hệ sinh thái thuỷ vực.
Bên cạnh đó, hiện tượng xâm thực của nước mặn vào các con sông ngày càng tăng, dẫn đến sự mặn hoá làm giảm nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt. Đặc biệt là khu vực hạ lưu sông Kone và sông Hà Thanh, đây là nơi tập trung đông dân cư nhất 3 trong khu vực và có nhiều hoạt động sản xuất công nghiệp nên vấn đề xâm nhập mặn và ngập sẽ gây nhiều tác động đến sản xuất và đời sống của người dân [11]. c) Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C; tại vùng duyên hải là 27°C.
Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79 – 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối 79%. Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751mm, cực đại là 2.658mm, cực tiểu là 1. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 – 12; mùa khô kéo dài từ tháng 01 – 8 [13] (chi tiết xem phụ lục 4). d) Đa dạng sinh học Tỉnh Bình Định được chia làm 8 vùng sinh thái: HST rừng tự nhiên; HST rừng thứ sinh; HST rừng tre nứa, các thảm cỏ, cây bụi thứ sinh; HST nông nghiệp; HST thủy vực nội địa; HST đầm phá; HST rạn san hô; và HST dân cư, đô thị, KCN [12].
Bình Định có HST nhạy cảm như đầm Thị Nại, đầm Trà ô, đầm Đề Gi và các hồ chứa khác rất độc đáo với tính ĐDSH cao và là một trong những quê hương của một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao đặc biệt là Chình mun; vùng ven biển có các rạn san hô như Cù Lao Xanh (chi tiết hiện trạng bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của tỉnh được thể hiện ở phụ lục 6). - Hệ sinh thái rừng tự nhiên HST rừng tự nhiên được xác định trên cơ sở rừng giàu, nguyên sinh với thảm thực vật ở trạng thái rừng IIIA, IIIB. Hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ĐDSH cao, chưa bị tác động nhiều bởi các hoạt động phát triển kinh tế và sự can thiệp trực tiếp của con người. HST này bao gồm hai kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm ở đai độ cao trên 800m và rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở đai độ cao dưới 800 m.
Diện tích hệ sinh thái rừng tự nhiên có khoảng 47.420 ha, được phân bố chủ yếu ở các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và một ít ở huyện Tây Sơn. - Hệ sinh thái rừng thứ sinh Đây là HST có các kiểu rừng thứ sinh nghèo, trạng thái rừng ở mức IIA, IIB. Hệ sinh thái rừng thứ sinh được phục hồi sau canh tác nương rẫy, phục hồi sau phá 4 rừng. Diện tích của HST này là 237.070 ha chiếm 39,2 % diện tích đất tự nhiên của tỉnh.
HST thứ sinh phân bố chủ yếu tập trung ở các huyện Vĩnh Thạnh, An Lão, Hoài Ân, Vân Canh và phân bố rải rác ở các huyện Phù Cát, Phù Mỹ. - Hệ sinh thái rừng tre nứa, các thảm cỏ, cây bụi thứ sinh Kiểu này cũng có nguồn gốc gián tiếp từ kiểu rừng kín thuờng xanh mua ẩm nhiệt đới và là hậu quả trực tiếp của quá trình làm nuơng rẫy hoặc khai thác kiệt mà chua phục hồi lại rừng cây gỗ. Trạng thái rừng ở mức IA, IB, IC. Tuy nhiên, ở nhiều khu vực, vẫn còn có những khoảnh rừng nhỏ b é sót lại trên diện tích rừng tre nứa có cây gỗ rải rác.
Diện tích HST khoảng 12.740 ha chiếm 2,1% diện tích đất tự nhiên. Hiện tại kiểu sinh cảnh này còn có nhiều khả năng để phục hồi lại rừng bởi nguồn gieo giống của các loài cây gỗ vẫn còn và điều kiện đất đai chua bị biến đổi nhiều. Thành phần thực vật chủ yếu là các loài le (Pseudoxytenanthera nigrociliata, P. hosseusii)), lồ ô (Bambusa procera), nứa (Neohouzeana dulloa) và rải rác có cây lá rộng còn sót lại nhu: các loài dẻ, vạng trứng, lim xẹt, lõi thọ, trám, ngát, ba soi.
Le là loài tre mọc tản, còn lồ ô và nứa là những loài cây mọc cụm thành từng bụi lớn rất dày, các loài cây khác không thể mọc chen vào được. - Hệ sinh thái nông nghiệp HST nông nghiệp của tỉnh Bình Định bao gồm những khu vực cánh đồng được trồng trọt nhiều mùa vụ, những khu vực cánh đồng ít canh tác và có năng suất thấp, và có thể cả những cánh đồng bỏ hoang. Các khu vực cánh đồng có thể lớn, nhỏ, nằm trên các vùng đất bằng hay đất dốc. Các cánh đồng có thể trồng những loại cây ngắn ngày như các loại lúa, rau, hay những cây dài ngày, lưu niên như các loại cây ăn quả.
Thông thường, những diện tích lớn hay được sử dụng để trồng các loại rau và các loại cây hoa màu khác tạo nên một bức tranh xen kẽ gồm các cánh đồng trồng các loại cây và cỏ bỏ hoang đan xen với nhau. Diện tích HST này là 280.100 ha chiếm 46,3% diện tích đất tự nhiên, được phân bố chủ yếu ở các huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, An Nhơn, Tuy Phước, Tây Sơn - Hệ sinh thái thủy vực nội địa HST thuỷ vực nội địa ở Bình Định rất phong phú và đa dạng, là các kiểu HST đặc trung với các nơi cu trú cho các quần thể thuỷ sinh vật bao gồm các sông suối, 5 hồ, ao. Các loại hình thuỷ vực nội địa đuợc phân biệt dựa trên các đặc điểm tự nhiên nhu địa hình, địa mạo, nền đáy và chế độ thuỷ văn. Diện tích HST thủy vực nội địa nuớc ngọt là 10.790 ha chiếm 1,7% diện tích đất tự nhiên phân bố chủ yếu các huyện An Lão, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và phân bố rải rác ở các huyện khác.
+ Suối: Các suối của Bình Định nằm ở thuợng nguồn các sông Lại Giang, sông Kôn và sông Hà Thanh ở các huyện miền núi nhu An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và Vân Canh. Thành phần thuỷ sinh vật đặc trung cho HST suối bao gồm: thực vật thuỷ sinh (Macrophyta), thành phần ấu trùng côn trùng ở nuớc rất phong phú, các loài ốc kích thuớc nhỏ họ Thiariadae, Viviparidae, các loài cua suối họ Potamidae, các loài cá kích thuớc nhỏ. Do độ trong lớn nên các nhóm tảo bám đá (Periphyton) phát triển là cơ sở thức ăn quan trọng cho cá và động vật không xuơng sống. Theo đánh giá của nhiều tác giả (Kottelat, 1996), khu hệ thuỷ sinh vật HST suối có tỷ lệ các loài đặc hữu cao và trong kiểu HST này, có nhiều loài còn chua đuợc phát hiện.
+ Sông: Bình Định có hai hệ thống sông lớn là sông Lại Giang (dài 120 km, bắt nguồn từ vùng rừng núi An Lão, Hoài Ân đổ ra cửa An Dũ) và sông Kôn (dài 178 km bắt nguồn từ vùng núi đông Truờng Sơn chảy qua Vĩnh Thạnh, Tây Sơn đổ ra đầm Thị Nại). Ngoài hai hệ thống sông trên, còn các sông nhỏ khác là La Tinh (dài 52 km), sông Hà Thanh (dài 48 km). Sông là nơi cu trú rất quan trọng của các quần thể cá và các thủy sinh vật khác ngoài cá. Hệ động vật đáy phong phú bao gồm các nhóm tôm, cua, trai, ốc phong phú.
Mùa lụt là sự kiện quan trọng của nhiều loài cá sông. Nhiều loài cá có tập tính đẻ trứng trong, hoặc truớc hoặc ngay sau mùa lũ lụt. + Vùng cửa sông: Cửa sông là HST phức hợp do có sự tuơng tác giữa sông và biển. Bởi vậy quần xã thuỷ sinh vật ở đây mang tính hỗn hợp giữa các nhóm sinh thái nuớc ngọt, nuớc lợ và nuớc mặn.
Đây là nơi cu trú nuôi duỡng, bãi đẻ trứng của nhiều loài cá biển và nhiều nhóm động vật không xuơng sống. Một điều đáng luu ý là trong khu vực cửa sông, RNM rất phát triển cũng là nơi cu trú và nuôi duỡng cho nhiều loài thuỷ sinh vật. 6 + Ruộng lúa nuớc: Ruộng lúa nuớc là dạng thuỷ vực nông, ngập nuớc theo mùa. Nhiệt độ nuớc cao, hàm luợng ôxy hòa tan thấp, hệ thuỷ sinh vật kém phong phú.
+ Hồ và hồ chứa: Với đặc tính riêng hồ có phức hệ thuỷ sinh vật đặc trung. Khu hệ cá hồ bao gồm nhiều loài cá ăn nổi. Mối đe doạ cho HST hồ là sự di nhập các loài cá lạ, ô nhiễm, sự phú duỡng và thay đổi mực nuớc. Các quần thể thuỷ sinh vật hồ khá phong phú và nhạy cảm với những biến đổi môi truờng.
- Hệ sinh thái đầm Bình Định là tỉnh ven biển miền Trung Nam bộ, chiều dài bờ biển là 134 km.