CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Các khái niệm cơ bản và chu trình thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng 1. Khái niệm người có công với cách mạng Đối với thuật ngữ “người có công”, dù rằng từ ban đầu chính sách ưu đãi NCC đã được thực hiện, nhưng cho tới nay chưa có một VBQPPL nào nêu cụ thể về khái niệm NCC. Mặc dù vậy, dựa vào sự quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn dành cho đối tượng là NCC, mà một số công trình đã nêu khái niệm NCC theo 2 nghĩa sau: Theo nghĩa rộng: “NCC là những người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tuổi tác, nam nữ, đã tự nguyện cống hiến tài năng, sức lực, trí tuệ, có người hy sinh cuộc đời mình để phục vụ cho sự nghiệp của dân tộc trong dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước.
Họ là người có các cống hiến xuất sắc hoặc các thành tích đóng góp phục vụ vì lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc được nhà nước công nhận theo luật định”. Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản của NCC, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích dân tộc. Những cống hiến/ đóng góp của họ trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc hoặc trong công cuộc kiến thiết đất nước [30, tr. Theo nghĩa hẹp: “NCC là những người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tuổi tác, nam nữ có các cống hiến xuất sắc, các đóng góp ở thời kỳ trước cách mạng tháng 8/1945, ở cuộc kháng chiến để giải phóng dân tộc, để bảo vệ Tổ quốc, được các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công nhận theo luật định”.
Ở khái niệm này, NCC bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh một phần thân thể hoặc cả cuộc đời mình; hay họ có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng [30, tr. Trong Dự thảo lần 2 đối với Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM Sửa đổi vào 9 n năm 2019 đã xác định: NCC với CM là người hy sinh, bị thương hoặc có đóng góp công lao, thành tích ở các thời kỳ CM từ năm 1925 tới 31 tháng 12 năm 1991 hoặc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; họ xứng đáng được Đảng, Nhà nước ta và nhân dân tôn vinh và được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo luật định. Kế thừa và chắc lọc những giá trị hợp lý từ các quan niệm nêu trên, theo tác giả: NCC với CM được hiểu là những người đã hy sinh, bị thương hoặc tự nguyện cống hiến xuất sắc, đóng góp công lao, thành tích vì lợi ích quốc gia dân tộc trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng 8/1945, trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc hoặc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xứng đáng được Đảng, Nhà nước ta và nhân dân tôn vinh và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo luật định. Từ khái niệm trên, rút ra các đặc điểm về NCC đối với CM như sau: Một là, NCC đối với CM bao gồm những người tham gia CM hoặc người giúp đỡ CM, họ đã hy sinh một phần thân thể hoặc cả cuộc đời mình, hay họ đã có thành tích đóng góp vào sự nghiệp CM.
Hai là, NCC đối với CM là những người có cống hiến xuất sắc hoặc thành tích đóng góp vì lợi ích quốc gia dân tộc, những cống hiến/ đóng góp của họ trong công cuộc kiến thiết đất nước, hay trong sự nghiệp kháng chiến chống giặc ngoại xâm và bảo vệ Tổ quốc. Ba là, đối tượng NCC ở phạm vi hẹp, là những NCC ở thời kỳ CM dưới sự lãnh đạo của Đảng ta trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Chính sách NCC theo Pháp lệnh 26/2005/PL- UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005 về ưu đãi NCC với CM xác định các đối tượng gồm có: - Người hoạt động CM trước ngày 01/01/năm 1945; - Người hoạt động CM kể từ ngày 01/01/năm 1945 đến trước ngày Tổng khởi nghĩa CM Tháng 8/1945; 10 n - Liệt sĩ; - Bà mẹ Việt nam anh hùng; - Anh hùng lực lượng VTND và Anh hùng LĐ; - Thương binh và những người được hưởng CS như thương binh; - Bệnh binh; - Người tham gia hoạt động trong sự nghiệp kháng chiến bị nhiễm Dioxin/ chất độc hóa học; - Người tham gia hoạt động CM hoặc hoạt động trong sự nghiệp kháng chiến bị địch bắt tù, đày; - Người tham gia hoạt động trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, làm công tác nghĩa vụ quốc tế; - NCC giúp đỡ CM. Khái niệm chính sách đối với người có công với cách mạng Chính sách công được hiểu là tổng hợp các quyết định có tính chính trị, để vạch ra chương trình hành động thể hiện cách ứng xử của chủ thể quản lý trước những vấn đề sự việc hiện tượng diễn ra trong thực tiễn đời sống xã hội, để quản lý điều tiết sự phát triển nhằm đạt tới các mục tiêu đã được xác định.
Như vậy, chính sách công là tổng hợp các quyết định chính trị do Nhà nước ban hành cùng với chương trình hành động được lựa chọn với các giải pháp, công cụ thực hiện để giải quyết những vấn đề của thực tiễn xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền.22] Tuy nhiên, do đặc điểm của có tính đặc thù về cấu trúc, chức năng của hệ thống chính trị, nên hiện nay, ở nước ta cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chủ thể ban hành chính sách công. Từ thực tế đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng: Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của các chủ thể chính trị có thẩm quyền (Đảng cầm quyền, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội) về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất 11 n định để đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định [33,trang 14,17,18] Chính sách người có công đối với cách mạng là tập hợp các quyết định chính trị - pháp lý có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề của người có công , như tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc, nuôi dưỡng theo mục tiêu tổng thể của chính sách đã được xác định. Chính sách NCC là một bộ phận của hệ thống các chính sách XH, mà cụ thể đó là chính sách bảo đảm XH. Đối với nước ta, hệ thống các chính sách an sinh XH bao gồm cả chính sách ưu đãi XH cho những NCC với đất nước; bảo hiểm XH cho người LĐ trong các TPKT; cứu trợ XH cho những người yếu thế (không may bị hiểm nghèo hoặc bị rủi ro).
Do đó, bảo đảm XH là sự giúp đỡ, bảo vệ của Nhà nước và cộng đồng XH cho các thành viên đáng phải làm, trong đó bao gồm cả NCC. Như vậy,, chính sách ưu đãi XH có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách bảo đảm XH nói chung. Chính sách NCC là phương tiện, công cụ quản lý có hiệu lực mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần trong lĩnh vực ưu đãi XH đối với NCC. Việc ban hành chính sách NCC thể hiện đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa” và thực hiện công bằng XH, bởi lẽ sự hy sinh của NCC vì đại nghĩa mà không màng đến sự đánh đổi bằng tính mạng, xương máu và tài sản, nên không gì so sánh và đền bù được.
“Đền ơn đáp nghĩa” là đạo lý nhân văn trong truyền thống dân tộc ta với lòng kính trọng, biết ơn mãi mãi của nhiều thế hệ không chỉ của hôm nay mà cả mai sau đối với NCC. Quy trình thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng Quy trình chính sách được hiểu là một chuỗi các bước giai đoạn kế tiếp có quan hệ chặt chẽ với nhau từ việc hoạch định chính sách, đến tổ chức thực hiện chính sách và đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện chính sách. Quy trình thực hiện chính sách đối với NCC với CM là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có quan hệ chặt chẽ với nhau gồm có: xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách NCC; tuyên truyền phổ biến chính sách NCC; Phân công và phối hợp thực hiện chính sách NCC; duy trì việc thực hiện chính sách NCC với 12 n CM; điều chỉnh và bổ sung chính sách NCC; theo dõi, giám sát, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện chính sách NCC với CM; tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách NCC với CM. Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đối với người có công Kế hoạch thực hiện chính sách được thiết kế trước khi đưa chính sách có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống.
Kế hoạch thực hiện chính sách gồm có: Kế hoạch công tác tổ chức, điều hành; Kế hoạch dự kiến về các nguồn lực phục vụ; Kế hoạch về tiến độ thời gian thực hiện; và Kế hoạch theo dõi, giám sát, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện chính sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách đối với người có công Tuyên truyền phổ biến tốt chính sách NCC sẽ giúp cho đối tượng thụ hưởng chính sách hiểu rõ, hiểu đúng về vai trò và mục đích, yêu cầu của chính sách NCC và giúp cho các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện nhận thức sâu sắc và toàn diện chính sách NCC để tổ chức thực hiện đạt hiệu quả đối với kế hoạch thực hiện chính sách NCC được giao. Tuyên truyền phổ biến chính sách NCC được thực hiện dướinhiều hình thức như thông qua truyền hình, truyền thanh, báo chí, báo mạng, tổ chức sự kiện, diễn đàn hội thảo, hội nghị và hình thức khác về lan truyền cộng đồng. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách NCC đóng vai trò không kém phần quan trọng đối với quá trình thực hiện chính sách này.
Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đối với người có công Để việc thực hiện chính sách NCC thực sự đạt hiệu quả phải coi trọng hoạt động phân công và phối hợp giữa các cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực với chính quyền các cấp địa phương, coi trọng những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp vào quá trình thực hiện chính sách và mục tiêu chính sách. Trong thực tế thường hay phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện chính sách đối với người có công.