MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo số liệu thống kê từ Tổ chức nông lương liên hiệp quốc (FAO), đến thời điểm năm 2012, toàn thế giới đã có 23,8 triệu tan rong bién tuoi dugc thu hoach. Trong đó, có khoảng 95% được sản xuất trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu ở chau A, phan còn lại được thu hoạch từ tự nhiên cả ở châu A và châu Au (FAO, 2014; Hansen, 2013). Việt Nam đã xác định được 800 loài rong biển với trữ lượng tự nhiên 80 - 100 ty tan tính đến đầu năm 2018.
Hiện nay, có 2 nhóm loài rong bién có trữ lượng nguồn lợi tự nhiên lớn là rong mơ và rong câu; 7 loài rong có giá trị kinh tế là rong nho, rong câu chỉ vàng, rong câu thắt, rong câu cước, rong sụn, rong bap sti, rong sụn gai đang được nuôi trồng phố biến ở Việt Nam (Văn Viện, 2018). Hoạt tính sinh học của các chất chuyển hóa thứ cấp được trích ly từ các loài rong biển là một chủ dé quan trọng của nhiều nghiên cứu khoa học. Rong biển đã được xác nhận có đóng góp vào việc phòng chống các bệnh nghiêm trọng như giảm huyết áp và đường huyết, chống viêm, chống oxy hoá, điều hòa miễn dịch và ảnh hưởng than kinh,. Đáng chú ý là hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết từ các loại rong biển và có thể sử dụng như một loại thuốc hiệu quả giúp bảo vệ chồng lại tác hại của các sốc tự do.
Ngoài ra, một SỐ nghiên cứu còn chỉ ra rằng hoạt chất sinh học từ rong biển còn có khả năng chống đái tháo đường thông qua khả năng ức chế enzyme a-glucosidase (Kurihara, 1999; Zhang và cộng sự, 2007). Ngày nay, tuy da có rất nhiều hợp chat chống oxy hoá cũng như các chất ức chế enzyme a-glucosidase được tông hợp nhưng các hợp chat tong hợp thường gây nhiều phản ứng phụ. Vì vậy, việc tìm kiếm các hoạt chất sinh học tự nhiên vẫn đang được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Một số phương pháp trích ly các hoạt tính sinh học từ rong biển đã được thử nghiệm như trích ly bang nước nóng, trích ly bằng phương pháp vật lý, hóa học.
Trong khi đó, phương pháp trích ly được hỗ trợ enzyme đang được chú ý bởi hiệu quả do hoạt động thủy phân của enzyme mang lại trên rong biển. Nó có thé làm suy yếu hoặc phá vỡ cau trúc thành tế bào và phá vỡ các hợp chất lưu trữ phức tạp, giải phóng các hợp chất như polysaccharide, peptide, axit amin nội bào (Wang và cộng sự, 2010). Một số nghiên cứu đã báo cáo khả năng trích ly cao các hợp chất hoạt tính sinh học từ một số loài rong biển và đây được xem là phương pháp kinh tế, an toàn trong thực phẩm và thân thiện môi trường dựa trên quá trình không dung môi với thấp chi phí, tỷ lệ chiết xuất cao, năng suất cao (Heo và cộng sự, 2003; Hardouin và cộng sự, 2014). Việt Nam có sản lượng rong biến tự nhiên và nuôi trồng lớn sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào và day tiém nang để tạo ra các loại dịch chiết rong biển có hoạt tính sinh học cao.
Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam lại chưa có nhiều nghiên cứu ứng dụng về đối tượng này. Các nghiên cứu thu nhận dịch chiết có hoạt tính sinh học trên rong biên da số chỉ sử dung phương pháp trích ly bằng dung môi. Phương pháp này cho hiệu suất trích ly tương đối cao nhưng mất nhiều thời gian, đòi hỏi lượng dung môi hữu cơ lớn gây ô nhiễm môi trường và độ an toàn trong thực phẩm và dược phẩm thấp. Xuất phát từ những tiền dé trên, dé tài “Đánh giá khả năng chống oxy hóa và ức chế enzyme a-glucosidase trong dịch chiết bang enzyme từ một số loài tảo nội địa” được thực hiện.
Mục tiêu đề tài Nghiên cứu này nhằm đánh giá hoạt tính sinh hoc polyphenol tổng, khả năng chống oxy hóa va khả năng ức chế enzyme a-glucosidase trong dịch chiết thu nhận được từ các đại diện của rong đỏ, rong nâu và rong lục pho biến tại Việt Nam. Nhằm tìm kiếm và bồ sung nguồn nguyên liệu tự nhiên đây tiềm năng và phong phú với kha năng chống đái tháo đường và chống oxy hóa hiệu quả. Khảo sát hiệu quả sử dụng phương pháp trích ly hỗ trợ với các loại enzyme thủy phân thích hợp, cũng như sự ảnh hưởng của các điều kiện trong quá trình trích ly đến các hoạt tính này. Đối tượng nghiên cứu - Rong mơ Sargassum.
sp được thu thập từ tự nhiên tại vùng biển phường Đông Hải, thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. - Rong sun Kappaphycus alvarezii được thu thập vào mùa thu hoạch tại vùng nuồi rong sụn thuộc thôn Sơn Hải, xã Ca Na, huyện Ninh Hai, tinh Ninh Thuận. - Rong nho Caulerpa lentillifera được thu thập tại ao nuôi tai thôn Phương Cựu, xã Phương Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Nội dung nghiên cứu - Khảo sát ảnh hưởng của 4 loại enzyme đến hiệu suất trích ly và hàm lượng polyphenol tong số, khả năng chống oxy hóa thông qua khả năng khử gốc tự do DPPH của dịch chiết rong biến.
- Khảo sát ảnh hưởng của nông độ enzyme và thời gian xử lý đến hiệu suất trích ly và hàm lượng phenolic tổng số, khả năng chống oxy hóa thông qua khả năng khử gốc tự do DPPH của dịch chiết rong biến. - Đánh giá khả năng ức chế enzyme a-glucosidase của dịch chiết của 3 đại diện rong biển với những điều kiện trích ly đã được chọn lọc. Y nghĩa của đề tài - Y nghĩa khoa học Kết quả của nghiên cứu này giúp đánh giá ảnh hưởng của một số điều kiện trong phương pháp trích ly được hỗ trợ bằng enzyme đến hoạt chất sinh học liên quan đến khả năng chống oxy hóa cũng như đánh giá khả năng ức chế enzyme ơ-glucosidase trong đại diện của 3 phân lớp rong biến lớn tại Việt Nam. - Y nghĩa thực tiễn của đề tài Đánh giá hoạt tính sinh học của các đại diện rong pho biến tại Việt Nam, gop phan tạo cơ sở cho việc phat triển công nghệ trích ly thu nhận các hoạt chất sinh học rong biển sử dụng trong thực phẩm chức nang, thực phẩm bồ sung và dược phẩm.
Chương 2: TÔNG QUAN 2. Rong biến Tao được phân loại là vi tao don bào va rong biên là thực vật vĩ mô của sinh vật biển. Vi tảo được tìm thay trong cả môi trường sinh vật đáy, sinh vật sông ven biển và cả trên vùng biến đại dương. Rong biến phát triển trong vùng triều cũng như trong khu vực dưới triều lên đến một độ sâu nhất định nơi có rất ít ánh sáng quang hợp (Dhargalkar và Pereira, 2005).
Phân loại rong biển Rong biển thường được mồ tả, được phân loại chủ yếu theo màu thành ba loại chính là rong biển màu lục, đỏ và nâu: + Rong Đỏ: Rong Đỏ (Rhodophyta) phân bố nhiều ở Việt Nam. Tiếp đó cùng với số lượng loài tương đương nhau ở Nhật Bản, Chile, Indonesia, Philippine, Canada, Han Quốc tiép theo sau la Thai Lan, Brazil, Phap, Bồ Đảo Nha, Trung Quốc. + Rong Nau: Rong Nau (Phaeophyta) phân bố nhiều nhất ở Nhật Bản, tiếp theo là Canada, Việt Nam, Hàn Quốc, Alaska, Ireland, Mỹ, Pháp, ân Độ, kế tiếp là Chile, Achentina, Brazil, Hawaii, Malaysia, Mexico, Myanmar, Bồ Đào Nha. + Rong Lục: Xét về số lượng các loài rong, thì rong Luc (Chlorophyta) trên thé giới chủ yếu phân bố tập trung tại Philippin, tiếp theo là Hàn Quốc, kế tiếp là Indonesia, Nhật Bản và Việt Nam.
Rong biển tại Việt Nam Trong năm 2010-2011, dự án “Điều tra tông thé da dang sinh hoc các hệ sinh thái ran san hô và vùng ven dao ở vùng biển Việt Nam phục vu phát triển bên vững” đã tiễn hành nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thành phan loài rong biến tại 19 vùng đảo ở biển Việt Nam. Băng phương pháp hình thái so sánh và phân tích cấu trúc tế bào, tác gia đã xác định được 376 loài rong biển, thuộc 62 họ, 31 bộ thuộc 4 ngành rong biển. Trong đó, ngành rong đỏ (Rhodophyta) có 178 loài, ngành rong lục (Chlorophyta) có 94 loài, ngành rong nâu (Ochrophyta) có S0 loài và ngành rong lam (Cyanobacteria) có 24 loài. Đối với loại rong có sản lượng tự nhiên lớn: rong nâu (Sargassum, Hormophysa, Hydroclathrus); rong đỗ (Gracilaria, Hydropuntia, Hypnea); rong lục (Ulva, Chaetomorpha, Cladophora, Caulerpa lentillifera và một số loài khác, được nuôi trồng trong ao dia, vịnh, bãi triều ven biển (Hoàng My, 2016).
Đối với loại rong nuôi trồng có sản lượng tự nhiên lớn: Hiện nay, 07 loài rong kinh tế (rong nho - Caulerpa lentillifera, rong câu chỉ vàng - Gracilaria tenuistipitata, rong câu thắt - Gracilaria firma, rong câu cước - Gracilariopsis bailinae, rong sụn - Kappaphycus alvarezii, rong bap st - Kappaphycus striatus, rong sụn gai - Eucheuma denticulatum) dang được trong pho biến ở Việt Nam (Nguyen Van Tu, 2015). Hiện tại, cả nước nuôi trồng khoảng 10.000 ha rong biến, sản lượng đạt hơn 101. Trong đó, Bắc bộ có gần 6.600 ha, Bắc Trung bộ hơn 2.000 ha, Nam Trung bộ 1.400 ha và đồng băng sông Cửu Long 100 ha (Văn Viện, 2018). Loài rong biển nghiên cứu a.
Rong sụn Rong sụn có tên khoa học là Kappaphycus alvarezi, thuộc ngành tảo đỏ. Day là một trong những nguồn quan trọng nhất cung cấp carrageenan, là nhóm polysaccharid tạo gel và tạo độ nhớt. - Phân bồ và sản lượng: Là loài rong nhập từ Nhật Bản vào Việt Nam tháng 2 năm 1993. Hiện được trồng ở một số tỉnh Miễn trung và Miền Nam.
Ở Miễn Bắc mới thử nghiệm trồng ở Quảng Ninh, Hải Phòng và Nghệ An. Phân bố ở các nước Philippin, Nhật Bản, Indonesia, Polynexia, Pháp. alvarezii được trồng nhiều nhất ở các tinh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, năng suất trung bình 20-30 tan khô/ha/năm và đã trở thành một loài thuỷ sản quan trọng ở một số tỉnh ở miền nam Việt Nam (Danida và Suma, 2002). Trong những năm gan day, theo số liệu thống kê từ Viện nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang, năm 2010, sản lượng nuôi trồng trung bình của loài rong này lên đến 3.
Alvarezii tại Ninh Thuận - Thanh phan héa hoc: Thanh phan hóa học của rong sun Kappaphycus alvarezii được thu thập ở Vinh Ninh Vân, Khánh Hòa đã được khảo sát bởi Hong và cộng sự năm 2007 (Bang 2. Thành phan chính của rong sụn (g/100g khối lượng khô) (Hong và cộng su, 2007) ` Phốt. ¬ Carbo- | Chất Loài pho Nito | Protein | Lipid hydrate xo Tro Kappaphycus alvarezili 0,091 | 0. Rong mo Chi rong mơ có tên khoa hoc là Sargassum, thuộc ngành rong nau Phacophyta, họ Rong mơ Sargassaceae là đôi tượng được sử dụng trong thực pham, dược phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp của nhiều nước trên thế giới (Nguyen Van Tu, 2015).