Đặt vấn đề Cà phê Ďược trồng ở khoảng 80 quốc gia, là một trong những loại nước giải khát phổ biến nhất trên thế giới và là hàng hóa lớn thứ hai sau dầu mỏ [1]. Tuy nhiên, có mười quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất chiếm khoảng 80% sản lượng thế giới. Trong Ďó Nam Mỹ khoảng 43%, châu Á với 24%, Trung Mỹ 18% và Châu Phi với 16%. Brazil, Việt Nam, Colombia và Indonesia là những nước có diện tích cà phê lớn nhất trên thế giới là các nhà sản xuất, cung cấp hơn một nữa lượng cà phê thế giới.
Theo Tổ chức Cà Phê Quốc tế (ICO), việc tiêu thụ cà phê trên thế giới trong năm 2007 Ďược khoảng 124.636 triệu bao 60 kg, tăng 2,88% so với 121,150 triệu bao 60kg thụ vào năm 2006 [2].Việt Nam là một nước tương Ďối mới Ďối với cà phê, nhưng Ďã Ďược công nhận là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thới giới và trong những năm gần Ďây Ďã trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới về cà phê Robusta.Từ năm 1998 Ďến năm 2000, sản lượng cà phê của Việt Nam Ďã tăng từ 409. Cho Ďến nay, diện tích cà phê trên cả nước khoảng 600.000 ha và sản lượng có khi lên Ďến 900. Một dư lượng lớn bã hạt cà phê thu Ďược trong quá trình chế biến. Số lượng lớn dư lượng này Ďược tạo ra hàng năm trong sản xuất cà phê hoà tan Ďòi hỏi phảicó kế hoạch quản lý chất thải phù hợp.
Chẳng hạn như Nestlé, công ty thực phẩm lớn nhất thế giới cam kết giảm lượng rác thải ở châu Âu vào năm 2020 bằng cách sử dụng bã hạt cà phê Ďã qua sử dụng làm nguồn tái tạo năng lượng tại hơn 20 nhà máy Nescafé. Bã hạt cà phê chứa một lượng lớn các hợp chất hữu cơ (các acid béo, lignin, cellolose, hemicellulose và các polysaccharide khác )cùng tính chất kháng oxy hóa của chúng Ďã Ďược nghiên cứu khai thác như là một nguồn sản phẩm giá trị tiềm năng, làm tăng giá trị cho sản phẩm chất thải không tốn kém nàyvà khai thác hết tiềm năng của nó làm tăng tính bền vững của ngành công nghiệp cà phê [1].2 Ý nghĩa thực tiễn Giải quyết vấn Ďề về ô nhiễm môi trường và là thông tin liên quan Ďến những người quan tâm về ngành dược phẩm, mỹ phẩm. Tạo tiền Ďề cho những nghiên cứu sau này.3 Mục tiêu đề tài Đánh giá khả năng chiết dầu từ bã hạt cà phê qua các phương pháp: ngâm, siêu âm, vi sóng, Shoxlet. Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa trong dầu bã hạt cà phê.
Ứng dụng dầu trích bã cà phê Ďể sản xuất xà bông.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Bã hạt cà phê Ďược thu gom tại tiệm cà phê Trung Nguyên. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này Ďược thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệmtại phòng thí nghiệm Hóa Hữu Cơ, Trung tâm Lọc Dầu-Đại học Bách Khoa - ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh.5 Phƣơng pháp nghiên cứu Để Ďạt Ďược mục tiêu và nội dung nghiên cứu trên, các phương pháp nghiên cứu Ďược sử dụng trong Ďề tài này là: Phương pháp thu thập tìm kiếm tài liệu: Dựa trên các công trình nghiên cứu liên quan Ďược công bố ngoài nước. Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thí nghiệm sử dụng kỹ thuật Ďộ hòa tan, Ďo UV- Vis khảo sát bước sóng.
Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng các phương pháp thông kê Ďánh giá số liệu phân tích.1 Thành phần hóa học của cà phê 2.1 Thành phần hoá học của hạt cà phê xanh Caffein là thành phần Ďược biết Ďến nhiều nhất của hạt cà phê. Ở cà phê Arabica thô, caffein có thể Ďược tìm thấy với các giá trị khác nhau giữa 0,8% và 1,4% khối lượng khô, trong khi Ďối với Robustacác giá trị này thay Ďổi từ 1,7% Ďến 4,0% khối lượng khô [3]. Tuy nhiên, hạt cà phê còn Ďược cấu thành bởi một số thành phần khác, bao gồm cellulose, khoáng chất, Ďường, lipid, tannin, và polyphenol. Khoáng sản bao gồm kali, magiê, canxi, natri, sắt, mangan, kẽm, Ďồng, crôm, vanadium, bari, niken, coban, chì, molybden, titan và cadmium,.
Các loại Ďường gồm có sucrose, glucose, fructose, arabinose, galactose, và mannose.Một số các axit amin như alanin, arginine, asparagine, cysteine, axit glutamic, glycine, histidine, izoleucin, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, proline, serine, threonine, tyrosine, và valine cũng có thể Ďược tìm thấy trong cà phê xanh. Ngoài ra hạt cà phê có chứa vitamin phức hợp B, niacin (vitamin B3 và PP)và chlorogenic axit trong tỷ lệ có thể thay Ďổi từ 7% Ďến 12%, gấp ba Ďến năm lần so với caffein [3].1: Thành phần hoá học của hạt cà phê Arabica và Robusta [4] Component Arabica Robusta Constituents Soluble 9–12,5 6–11,5 carbohydrates Monosaccharides 0,2–0,5 Fructose, glucose, galactose, arabinose (traces) Oligosaccharides 6–9 3–7 Sucrose (>90%), raffinose (0– 0,9%), stachyose (0–0,13%) Polysaccharides 3–4 3–4 Polymers of galactose (55– 65%), mannose (10–20%), arabinose (20–35%), glucose (0– 2%) Insoluble 46–53 34–44 polysaccharides 4 Hemicelluloses 5–10 3–4 3–4 Polymers of galactose (65– 75%), arabinose (25–30%), mannose (0–10%) Cellulose, β(1– 41–43 32–40 4)mannan Acids and phenols Volatile acids 0,1 Nonvolatile 2–2,9 1,3–2,2 Citric acid, malic acid, quinic acid aliphatic acids Chlorogenic acid 6,7–9,2 7,1–12,1 Mono-, dicaffeoyl-, and feruloylquinic acid Lignin 1–3 Lipids 15–18 8–12 Wax 0,2–0,3 Oil 7,7–17,7 Main fatty acids: 16:0 and 18:2 (9,12) N compounds 11–15 Free amino acids 0,2–0,8 Main amino acids: Glu, Asp, Asp- NH2 Proteins 8,5–12 Caffeine 0,8–1,4 1,7–4,0 Traces of theobromine and theophylline Trigonelline 0,6–1,2 0,3–0,9 Minerals 3–5,4 Trong số các chất có trong thành phần hóa học của cà phê, chỉ có chất caffein có khả năng chịu nhiệt, nghĩa là không bị phá hủy bởi quá trình rang. Các chất như asprotein, Ďường, axit chlorogenic, trigonelline và chất béo có thể Ďược bảo quản hoặc thậm chí bị phá hủy và biến thành sản phẩm phản ứng trong quá trình rang cà phê [5]. Các hợp chất phenolic chủ yếu Ďược tìm thấy trong hạt cà phê xanh như CGA (lên tới 12% chất rắn), là este của axit trans-cinnamic và axit quinic.
Theo kết quả nghiên cứu CGA Ďã Ďược tìmthấy trong hạt cà phê xanh bao gồmcaffeoylquinic, feruloylquinic, p-coumaroylquinic, dimethoxycinnamoylquinic, dicaffeoylquinic, diferuloylquinic, di-p-coumaroylquinic, feruloylcaffeoyl quinic,. Sự liên hợp axit hydroxycinnamic với các axit amin (cinnamoyl amides) hoặc glycosides (cinnamoyl glycosides) cũng Ďã Ďược báo cáo trong cà phê xanh [3, 6]. Bên cạnh tiềm năng của nó như các chất chống oxy hoá CGA có tác dụng tốt cho sức khỏe chẳng hạn như 5 bảo vệ gan, hạ Ďường huyếtvà các hoạt Ďộng kháng vi-rút[7]. Các hợp chất phenol khác, chẳng hạn như tannin, lignan và anthocyanins Ďược tìm thấy với lượng thấp hơn trong hạt cà phê [8].
Thành phần lipid của hạt cà phê xanh chủ yếu gồm triacylglycerols, sterol, tocopherols và diterpene, loại thứ hai chiếm Ďến 20% tổng số lipid [9]. Quá trình rang cà phê sẽ gây ra các thay Ďổi Ďối với các thành phần của hạt cà phêbởi vì một số hợp chất sẽ bị suy thoái hoặc biến Ďổi dẫn Ďến sự hình thành của các Ďặc trưng về hương thơm, hương vị và màu sắc. Để tránh mất mát một số hợp chất có lợi cho sức khỏe trong quá trình này, người ta tìm cách chiết xuất cà phê xanh bằng cách khi trích ly cà phê xanh với nước nóng, rượu hoặc hỗn hợp của chúng [10].2 Cà phê rang Tính chất Ďặc trưng của thức uống cà phê, như hương vị và mùi thơm, Ďược phát triển trong quá trình rang, khi các hạt cà phê trải qua một loạt các phản ứng gây ra những thay Ďổi Ďối với thành phần hóa học [11]. Polysaccharides bị phân hủy trong suốt quá trình rang Ďến hàm lượng carbohydrate thấp [12].
Dưới ảnh hưởng của quá trình rang, Ďặc Ďiểm màu sắc bên ngoài của hạt cà phê thay Ďổi (từ sáng Ďến nâu Ďậm do sự phân huỷ của các hợp chất hữu cơ) [3].Trong quá trình rang những silverskin còn lại Ďược lấy ra hạt cà phê. Các hợp chất Ďược tạo ra trong quá trình rang cũng chịu trách nhiệm cho các hoạt Ďộng sinh học tích cực của cây cà phê [13]. Tuy nhiên, các hợp chất gây ung thư, như polycyclic aromatic hydrocarbon, cũng có thể Ďược hình thành bởi quá trình Ďốt cháy không hoàn toàn chất hữu cơ trong quá trình rang. Nhưng chúng Ďã Ďược phát hiện trong cà phê chỉ với những lượng không Ďáng kể [14].
Sự hình thành acrylamide trong quá trình rang cà phê Ďã Ďược xác nhận, Ďặc biệt là trong những giai Ďoạn Ďầu của quá trình rang. Người ta cũng thấy rằng khi rang cà phê Robusta chứa nhiều acrylamide hơn cà phê Arabica và nồng Ďộ acrylamide giảm dần theo thời gian rang [15]. Cà phê rang bao gồm carbohydrate (38-42%), melanoidins (23%), lipid (11-17%), protein (10%), khoáng chất (4.Từ 850 hợp 6 chất dễ bay hơi Ďược xác Ďịnh cho Ďến bây giờ cà phê rang chỉ có khoảng 40 hợp chất Ďóng góp vào mùi hương [3]. CGA cũng Ďóng góp vào các tính chất chống oxy hóa của cà phê rang [16].
Nhiệt Ďộ cao trong quá trình rang cà phê làm giảm lượng CGA, phù hợp với cường Ďộ của Ďiều kiện rang. Sự biến Ďổi xảy ra với CGA không hoàn toàn rõ ràng. Tuy nhiên việc xuất hiện axit lacton chlorogenic cũng như kết quả của quá trình này và ảnh hưởng của chúng Ďối với sự cay Ďắng của cà phê Ďã Ďược ghi nhận [17]. Cũng có bằng chứng cho rằng CGA, caffeic và axit quinic, Ďược kết hợp vào melanoidins với các hợp chất khác [18].
Melanoidins là hợp chất có tỷ trọng phân tử cao cấu trúc không rõ do sự phức tạp của các phân tử với hoạt Ďộng chống oxy hoá. Chúng là kết quả của sự kết hợp của Ďường và các axit amin thông qua phản ứng Maillard hoặc làm caramel hóa carbohydrate. Giảm dần các hoạt Ďộng chống oxy hóa Ďã Ďược quan sát với mức Ďộ rang cà phê, cho thấy cà phê rang trung bình là hoạt Ďộng cao nhất, do sự cân bằng giữa sự giảm các hợp chất phenolic và việc tạo ra các sản phẩm phản ứng Maillard trong quá trình này nhận thấy rằng chiết xuất cà phê Robusta có hiệu quả chống oxy hóa cao hơn những chất từ hạt cà phê Arabica. Phương pháp hiệu quả nhất cho chiết xuất chất chống oxy hoá là Ďun sôi hạt cà phê trong nước dưới áp lực cao[19, 20].
Serotonin, hoạt Ďộng như một chất dẫn truyền thần kinh trong thần kinh trung ương hệ thống, và tiền thân của nó L- tryptophan và 5-hydroxytryptophan, Ďã Ďược phát hiện trong cà phê xanh và rang. Rang cũng có ảnh hưởng Ďến lượng chất xơ hòa tan hiện diện trong hạt cà phê. Nghiên cứu tìm thấy sự gia tăng từ 39,4 mg / 100 mg chất khô hòa tan trong cà phê xanh Ďến 64,9 mg / 100 mg ở hạt cà phê rang thô. Dầu cũng có thể chiết xuất từ cà phê rang.
Tuy nhiên trong khi rang, tích tụ một số hợp chất dễ bay hơi, chịu trách nhiệm về hương vị cà phê rang và mùi thơm [3, 21].