CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nông thôn và nông thôn miền núi 1. Nông thôn Nông thôn có thể coi là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp [35]. Ví dụ như là các cộng đồng sống dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp.
Khái niệm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế [57]. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây. Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển [57]. Các quốc gia trên thế giới đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn cho các mục tiêu quản lý và phát triển.
Các tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị được sử dụng phần lớn phản ánh đặc điểm cộng đồng như: thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội… [35]. Sự khác nhau căn bản giữa cộng đồng nông thôn và thành thị theo nguyên lý của xã hội học nông thôn bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng. Tuy nhiên, các cộng đồng nông thôn và cộng đồng thành thị cũng có thể hiện diện trong một vùng địa lý cụ thể, ví dụ một thành phố hay thị xã [57]. Mật độ dân số là tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất trong quy hoạch phát triển và xác lập ranh giới hành chính vùng nông thôn và đô thị vì chỉ tiêu này có thể lượng hóa và đại diện cho một số đặc trưng cơ bản của cộng đồng.
Tuy nhiên tiêu chí này rất khác nhau giữa các nước, các vùng, các địa phương và cũng biến động theo thời gian [44]. Trên thực tế, người ta không đưa ra tiêu chí xác định vùng nông thôn mà dùng phương pháp loại trừ. Vùng nông thôn là vùng lãnh thổ chưa được xác định là khu vực đô thị theo các tiêu chí của mỗi nước. Như vậy khái niệm vùng nông thôn là một điểm hay khu vực dân cư tập trung với số lượng không lớn, mật độ dân số thấp và tỷ lệ người làm công nghiệp, dịch vụ cũng thấp hơn hẳn người làm nông nghiệp.
6 Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 của Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thì khái niệm vùng nông thôn được quy định cụ thể như sau: “Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường thuộc thị xã, quận và thành phố và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” [14]. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Theo Trương Văn Tuyển [57], một số đặc điểm đặc thù của nông thôn Việt Nam là: Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp.
Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi. Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ. Theo đó, tỷ trọng lao động và tổng sản phẩm nội địa của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ [57].
Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và cả do con người tạo ra [57]. Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội. Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước. Sự gia tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội.
Vì vậy, sự phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia [57]. Nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại. Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp. Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông nghiệp.
Phát triển nông thôn (PTNT) sẽ góp phần 7 thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội [57]. Nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau. Mỗi sự biến động dù tích cực hay tiêu cực đều sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của cả nước. Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nước.
Nông thôn miền núi Nông thôn miền núi khác với các vùng nông thôn khác như nông thôn vùng đồng bằng, nông thôn vùng ven biển bởi các đặc trưng cơ bản của nông thôn miền núi là đa sắc tộc và sống quần cư ở các vùng rừng núi. Điển hình ở Việt Nam các cộng đồng sinh sống ở nông thôn miền núi như miền núi phía Đông Bắc, miền núi Tây Bắc hay vùng Tây Nguyên [57]. Ngày 9 tháng 4 năm 1992, Văn phòng Miền núi và Dân tộc (nay là Ủy ban Dân tộc) có tờ trình Chính phủ số 98/MNDT về tiêu chí phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi vùng cao để làm cơ sở thực hiện phân định [59]: - Tiêu chí miền núi: (i) Xã miền núi là xã có 2/3 diện tích đất đai tự nhiên có độ cao 200m trở lên so với mặt biển; (ii) Huyện miền núi là huyện có 2/3 số xã là miền núi; (iii) Tỉnh miền núi là tỉnh có 2/3 số huyện là miền núi. - Tiêu chí vùng cao: (i) Xã vùng cao là xã có 2/3 diện tích đất đai tự nhiên có độ cao 600m trở lên so với mặt biển; (ii) Huyện vùng cao là huyện có 2/3 số xã là vùng cao; (iii) Tỉnh vùng cao là tỉnh có 2/3 số huyện vùng cao.
Ngoài ra, việc phân loại vùng dân tộc thiểu số và miền núi thành 3 khu vực là căn cứ pháp lý quan trọng để các bộ, ban ngành thuộc Trung ương và chính quyền địa phương xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách. Việc phân loại 3 khu vực như sau [11]: Địa bàn đặc biệt khó khăn (xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn): là các xã (thôn) vùng dân tộc thiểu số và miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao; kinh tế - xã hội chậm phát triển; chất lượng nguồn nhân lực thấp; hạ tầng cơ sở yếu kém, nhất là về giao thông; điều kiện khám chữa bệnh, học tập của người dân còn nhiều khó khăn… Các xã, thôn nêu trên sẽ được Nhà nước ưu tiên, tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng; phát triển nguồn nhân lực và tạo điều kiện để người dân tiếp cận với các dịch vụ cơ bản để từng bước thu hẹp khoảng cách so với vùng phát triển. Địa bàn còn khó khăn (xã khu vực II): là các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng, còn thiếu hụt một hoặc một số điều kiện về cơ sở hạ tầng và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đối với các xã khu vực II thì Nhà nước chỉ 8 hỗ trợ tạo sinh kế, đầu tư bổ sung một phần hạ tầng còn thiếu hụt, chủ yếu là thực hiện các chính sách đối với con người.
Xã khu vực I: là các xã còn lại thuộc vùng dân tộc và miền núi không phải xã khu vực III và xã khu vực II. Hộ gia đình nông thôn Nông hộ là hình thức tổ chức kinh tế cơ bản trong nông nghiệp. Có nhiều quan niệm khác nhau về hộ, có ý kiến cho rằng: theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng sống chung trong một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” [25]. Quan điểm này có thiên hướng nhấn mạnh đến chức năng kinh tế, xem hộ như là một đơn vị kinh tế, sản xuất tiêu dùng trong xã hội.