CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Lịch s hình thành và h t triển chính sách bảo hiểm tiền g i Từ đầu thế kỷ 20, khái niệm bảo vệ tiền gửi đã được biết đến qua hình thức bảo vệ ngầm” trong đ gân hàng trung ương hoặc Chính phủ đưa ra cam kết công khai hoặc không công khai nhằm bảo đảm an toàn tiền gửi cho người dân khi xảy ra đổ vỡ ngân hàng. Cho đến nay, một số quốc gia vẫn sử dụng hình thức bảo vệ này, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng.
Sự ra đời của hoạt động BHT g n liền với việc chuyển từ hình thức bảo vệ ngầm” sang hình thức BHT công khai. Xuất phát từ ý tưởng của Joshua Forman, một thương nhân , kế hoạch BHT gồm 3 thành tố cơ bản là (1) Thành lập một qu BHT với nguồn tài chính được tất cả các ngân hàng đ ng g p qua hình thức nộp phí; (2) Thiết lập một ủy ban thực hiện kiểm tra ngân hàng; (3) Danh mục đầu tư cụ thể đối với nguồn tài chính được các ngân hàng đ ng g p. Chương trình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên được thực hiện ở New York vào năm 1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, đối tượng bao gồm tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. hững năm 1929 - 1933 bước vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, số lượng ngân hàng mất khả năng thanh toán và tạm thời ngừng hoạt động tăng cao.000 ngân hàng ngừng hoạt động, tổng số tổn thất của người gửi tiền lên tới 1,3 tỷ USD.
Đặc biệt việc đ ng cửa 4.000 ngân hàng chỉ trong vài tháng đầu năm 1933 đã tạo ra một cơn hoảng loạn, niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng Luan van 7 giảm sút nghiêm trọng. Trước tình hình đ , để ứng ph với tình huống và nhanh ch ng ổn định kinh tế, chính trị, Chính phủ cần đứng ra bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Vì vậy, năm 1933, Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang - FD C được thành lập và b t đầu hoạt động từ ngày 1 1 1934. Đây cũng được xem là mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên trên thế giới.
Tiếp theo đ , hệ thống BHT công khai dần được thiết lập trên thế giới. Trong hai thập kỷ 19 0-1970, hệ thống BHT đã được thành lập và phát triển ở các nước như a Uy (19 1), Ấn Độ (19 3), Philippines (19 3), Đức (19 ), Canada (19 7), Phần Lan (19 9), hật Bản (1971), Bỉ (1974), Hà Lan và Áo (1979). Đối với các quốc gia c nền kinh tế chuyển đổi ở khu vực Châu Âu, việc áp dụng những khuyến nghị về các thông lệ quốc tế tốt nhất để trở thành thành viên của EU là cơ hội để các nước này thành lập tổ chức BHT của mình, chẳng hạn Hungary (1993), Cộng h a S c (1994), Ba Lan (1995), Rumani (199 ), Cộng h a Latvia (1998). Tại Châu Á, Philippines là nước phát triển chính sách BHT từ rất sớm (1963).
Xu hướng thành lập hệ thống BHT trở nên mạnh mẽ và nhanh ch ng trong và sau giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á Đài Loan (1985), Hàn Quốc (199 ), Việt am (2000), ndonesia và Hồng Kông (2004), Malaysia (2005), Singapore (2005), Thái Lan (2008). Đặc biệt, ngày 5 2002, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế - IADI được thành lập c trụ sở tại Thụy S , là tiếng n i chung của các tổ chức BHTG thành viên. Theo thống kê của IADI, đến nay đã c 113 quốc gia trên thế giới thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi công khai để bảo vệ người gửi tiền trong đ c 79 tổ chức là thành viên của AD. Luan van 8 Hình 1.
hướng h t triển hệ thống BHTG tr n thế giới Nguồn: IADI Số lượng các nước cân nh c việc thực hiện chính sách BHTG công khai vẫn tiếp tục xu hướng gia tăng do bối cảnh thế giới c nhiều biến động phức tạp cả về kinh tế lẫn chính trị xã hội và những dấu hiệu bất ổn mới của kinh tế thế giới sau khủng khoảng kinh tế 2008. Bản chất hoạt động bảo hiểm tiền g i Theo hiệp hội các tổ chức BHT quốc tế - IADI, BHTG được hiểu là: “một hệ thống được thiết lập để bảo vệ người gửi tiền trước những mất mát có thể xảy ra đối với tiền gửi được bảo hiểm của họ trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền” Theo luật Bảo hiểm tiền gửi Việt am (2012), Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”. hư vậy, c thể hiểu BHT là một cam kết công khai của tổ chức BHT về việc sẽ hoàn trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi (bao gồm cả gốc và lãi) cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHT bị mất khả năng thanh toán hoặc chấm dứt hoạt động. Luan van 9 C thể thấy BHT vẫn giữ đặc trưng cơ bản nhất của hoạt động bảo hiểm chính là giảm thiểu tác động xấu khi xảy ra rủi ro theo nguyên t c lấy số đông b số ít.
guyên t c này được quán triệt trong quá trình tạo lập qu BHT cũng như quá trình chi trả BHT. Ba chủ thể chính trong mối quan hệ của BHTG là người gửi tiền thuộc đối tượng được BHTG, tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG. Hợp đồng BHTG được hình thành khi tổ chức bảo hiểm tiền gửi chấp thuận đề nghị tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức c hoạt động huy động tiền gửi. gười gửi tiền tại tổ chức tham gia BHT sẽ là đối tượng thụ hưởng trực tiếp khi c rủi ro xảy ra.
Tuy nhiên, BHTG cũng có nhiều điểm khác biệt cơ bản khi so sánh với các dịch vụ bảo hiểm thương mại thông thường. Bảo hiểm thương mại thường hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và chỉ bảo vệ tài sản của từng cá nhân, c n BHT hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, Chính phủ các quốc gia sử dụng BHT như một công cụ chính sách công nhằm g p phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính và giúp ổn định xã hội. Đối tượng thụ hưởng lợi ích của BHT là toàn xã hội chứ không đơn thuần chỉ là người c tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm. Ngoài ra, BHTG được thiết kế nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của sự bất cân xứng thông tin giữa người gửi tiền và tổ chức nhận tiền gửi.
Đối tượng mà BHT hướng đến là số đông dân cư bị hạn chế trong việc tiếp cận, kiểm chứng thông tin và phân tích hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi. Các đối tượng này thường c xu hướng phản ứng thái quá trước những thông tin xấu về hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi và gây thiệt hại cho chính bản thân cũng như d tạo ra phản ứng dây truyền gây đổ vỡ hệ thống. Với một cam kết hoàn trả công khai của tổ chức BHT , tác động tiêu cực của sự bất cân xứng thông tin sẽ được hạn chế giúp đảm bảo tính ổn định và hoạt động an toàn, hiệu quả của hệ thống tài chính. Hoạt động chính của tổ chức bảo hiểm tiền g i Tương tự các tổ chức bảo hiểm, BHTG có hai nghiệp vụ sơ khai nhất là tạo lập qu BHTG và chi trả BHTG khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Ngoài ra, tùy thuộc vào mục đích và hoàn cảnh cụ thể, mỗi quốc gia sẽ xây dựng chính sách BHTG và lựa chọn thành lập tổ chức BHTG theo các mô hình khác nhau. Có 3 mô hình chủ yếu khi thiết kế tổ chức BHTG với các chức năng, nhiệm vụ cơ bản như sau Bảng 1. Chức năng, nhiệm vụ của c c m hình tổ chức BHTG c bản Chi trả Giảm với quyền Chức năng nhiệm vụ Chi trả thiểu hạn mở rủi ro rộng Bảo vệ người gửi tiền Thu phí và quản lý Qu BHTG Chi trả bảo hiểm Thiết lập các nguồn tài trợ Quản lý rủi ro Tham gia giải quyết đổ vỡ ngân hàng Tham gia thanh lý ngân hàng bị đổ vỡ Giám sát từ xa Kiểm tra tại chỗ Can thiệp vào hoạt động của tổ chức tham gia BHTG Chấm dứt BHTG Nguồn: Hiệp hội BHTG quốc tế - IADI Luan van 11 Mô hình chi trả là mô hình đơn thuần và sơ khai nhất của một tổ chức BHT trong khi đ mô hình giảm thiểu rủi ro là mô hình mà tổ chức BHTG phát huy tốt nhất vai trò của mình. Các nghiệp vụ BHTG từ đ cũng thay đổi theo mỗi mô hình.
Tuy vậy, nhìn chung các tổ chức BHTG trên thế giới đều thực hiện các nghiệp vụ cơ bản là: thu phí BHTG, chi trả và thanh lý, giám sát và kiểm tra tổ chức tham gia BHTG và hỗ trợ tài chính. Thu phí BHTG Tương tự các hình thức bảo hiểm khác, tổ chức BHTG tạo lập qu BHTG thông qua hình thức thu phí đối với các tổ chức tham gia BHTG. Phí bảo hiểm tiền gửi được hiểu là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHT để bảo hiểm cho tiền gửi của người được BHTG tại tổ chức tham gia BHT. Đây là loại phí có tính chất b t buộc đối với tổ chức tham gia BHT để thực hiện chính sách BHTG.
Việc thu phí BHTG giúp hình thành qu BHTG có sẵn để xử lý đổ vỡ ngân hàng và thực hiện mục tiêu bảo vệ người gửi tiền, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Hiện nay, trên thế giới c 2 phương thức chủ yếu nhằm tính và thu phí thường xuyên theo định kỳ gồm đồng hạng và theo mức độ rủi ro. - Thu phí BHT đồng hạng: Với cách thu phí này, tiền phí phải nộp được tính theo một tỷ lệ phí đồng nhất áp dụng cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG. Hình thức thu phí này thường được các tổ chức BHTG mới thành lập áp dụng bởi n c tính đơn giản, d thực hiện và quản lý.