CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hạt nano kim loại Các hạt nano kim loại có ít nhất kích thước một chiều dao động trong khoảng 1- 100 nm [45]. Ở kích thước nano mét, chúng có những tính chất đặc biệt và khác biệt so với vật liệu khối cùng loại (tính chất điện, tính chất xúc tác, tính chất quang, tính chất từ, cấu trúc và tính chất cơ). Việc tổng hợp các hạt nano không chỉ được phát triển trong khoa học hiện đại ngày nay mà đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người.
Các nhà giả kim học đã chế tạo được những hạt nano vàng và họ tin rằng đó là thứ thuốc giúp con người trường thọ [9]. Các loại hạt nano kim loại khác đã được dùng để trang trí các cánh cửa nhà thờ, cung điện cho các màu sắc rực rỡ của chúng. Những chiếc cốc Lycurgus (Roman ~ 400 AD, Myth of King Lycurgus) được làm bằng thủy tinh có pha thêm các hạt nano vàng và bạc. Cốc xuất hiện màu xanh khi phản xạ, màu đỏ khi ánh sáng truyền qua [60].
Ngày nay việc nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng của các hạt nano kim loại đã góp phần tạo nên một bước tiến nhảy vọt trong khoa học cũng như đời sống do chúng sở hữu những thuộc tính vật liệu khác biệt, nổi trội và quý giá so với các vật liệu khối thông thường. Hiệu ứng cộng hưởng Plasmon bề mặt của hạt nano kim loại. Các hạt nano kim loại với kích thước nhỏ hơn bước sóng trong vùng khả kiến bộc lộ đặc tính tự nhiên liên quan đến cộng hưởng plasmon bề mặt phụ thuộc vào đặc tính hình học của hạt nano khi chúng bị kích thích bởi trường điện từ [25]. Trên bề mặt của hạt kim loại, plasmon là dạng sóng được truyền dọc theo bề mặt của vật dẫn ở phần chuyển tiếp giữa kim loại và vật liệu điện môi chứa hạt.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện tượng Plasmon bề mặt ở mặt phân cách giữa kim loại và điện môi. Plasmon bề mặt (sóng điện từ) bị kích thích khi các photon của bước sóng tới đập vào khu vực chuyển tiếp kim loại/điện môi và kích thích dao động cộng hưởng ở bề mặt, tạo nên một dạng sóng truyền (plasmon bề mặt) [27, 50]. Đối với các hạt nano kim loại, kích thước nhỏ tạo ra một sự hấp thụ cường độ mạnh trong khu vực khả kiến/gần UV.
Các điện tử dẫn tạo nên một dao động chọn lọc đặc trưng, tạo nên dải Plasmon có thể quan sát trong khu vực gần 530 nm với các hạt nano kích thước từ 5-20 nm. Đặc tính này được gọi là dao động cộng hưởng Plasmon định xứ [31]. Tần số cộng hưởng Plasmon của các hạt nano phụ thuộc vào chỉ số khúc xạ cục bộ. Một sự thay đổi nhỏ với chỉ số này sẽ dẫn đến việc dịch chuyển tần số dao động và do đó sẽ tạo nên sự dao động tỉ số khúc xạ.
Ví dụ, nếu bề mặt của hạt nano được nhúng trong trong dung dịch đệm lỏng và sau đó được nhúng trong dung dịch với tỉ số khúc xạ lớn hơn, điều này sẽ làm tăng tỉ số khúc xạ có thể được phát hiện bởi sự dịch chuyển trong cộng hưởng plasmon (hay kích thích) của hạt nano. Increaseinin Increase extinctionat absorbance at selected selectedwavelength wavelengthdue duetoto shift shiftininplasmon plasmonresonance resonance band band Extinction at Absorbance at selected wavelength wavelength Extinction Absorbance Wavelength Hình 1. Đỉnh hấp thụh Plasmon bị dịch chuyển dưới sự thay đổi của tác nhân bọc xung quanh hạt [31]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện tượng dịch chuyển đỉnh hấp thụ là do các tác nhân bọc xunh quanh hạt nano, sự dịch chuyển này có thể phù hợp với các ứng dụng trong chế tạo các sensor cảm biến sinh học bằng việc bọc chúng với kháng thể.
Độ nhạy cảm của plasmon bề mặt phụ thuộc vào đặc điểm hình thái (kích thước và hình dạng), môi trường điện môi (tác nhân bọc, môi trường xung quanh, chất nền), tương tác giữa các hạt (trạng thái co cụm).4 minh họa thuộc tính quang học của các hạt nano vàng và nano bạc được tổng hợp theo các quy trình khác nhau tạo ra các hình dạng và kích thước hạt nano khác nhau. Do đó, màu sắc dung dịch chứa các hạt nano do cộng hưởng plasmon cũng thay đổi, phổ hấp thụ UV thể hiện ở các đường hấp thụ với các đỉnh cực đại hấp thụ ở các vị trí bước sóng khác nhau. A) Các dung dịch nano vàng (AuNPs) và nano bạc (AgNPs) được chế tạo theo phương pháp Turkevich. B) Phổ hấp thụ UV tương ứng của các dung dịch [31].
Các loại hạt nano ứng dụng trong y sinh học 1. Các hạt nano kim loại Hạt nano kim loại là dạng phân tán của các pha rắn trong một môi trường chất lỏng, hầu hết các hạt nano kim loại với kích thước từ vài nm đến µm (Au [5], Ag [40], Pt [57], Pa [58], Cu, Fe, và Hg [22]). Các loại hạt nano kim loại quan trọng nhất được nghiên cứu và ứng dụng là nano vàng (AuNPs) và nano bạc (AgNPs). Các hạt nano vàng được hình thành từ một nguyên tử khởi đầu, sau đó được bao bọc bởi số lượng các nguyên tử vàng nhất định xung quanh, số lượng các hạt xung quanh được tính bởi công thức [10n2+2] [41], với n là số các lớp nguyên tử trong hạt.
Như vậy hạt nano vàng nhỏ nhất sẽ bao gồm 13 nguyên tử vàng (Au). Các hạt khác tương tự có cấu trúc gần với khối 20 mặt (icosahedrons) và khối 12 mặt (dodecahedrons) xấp xỉ dạng hình cầu cùng với đường kính tăng dần. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hạt nano cấu trúc lõi/vỏ Các hạt nano kim loại có cấu trúc lõi/vỏ (core/shell nanoparticles) có những đặc tính quang học rất đặc trưng.
Chúng có hai dao động cộng hưởng plasmon bề mặt tương ứng với dải điện tử của các thành phần kim loại tinh khiết trong cấu tạo hạt kim loại (của cả lõi và vỏ) [1]. Đặc tính quang học của các hạt nano kim loại được giải thích bằng lý thuyết Mie cho các hạt bị bọc bởi một lớp khác [10, 41]. So với các thể dị hướng, các hạt nano kim loại cấu trúc lõi vỏ được tổng hợp, ví dụ như dạng hợp kim bởi quá trình phát xạ laser, chỉ thể hiện một đỉnh Plasmon, nằm giữa các vùng hấp thụ của kim loại nguyên chất. Các hạt nano kim loại lõi- vỏ đóng vai trò rất quan trọng việc chẩn đoán sinh học [8].
Hơn nữa, các hạt nano kim loại thuần nhất bộc lộ một số khuyết điểm liên quan đến độ bền hóa học hoặc khi được sử dụng trong các dung môi khác nhau. Để ngăn chặn hiện tượng kết đám, các hạt huyền phù có thể được bọc bởi một lớp vỏ cách điện, ví dụ vỏ silica [34]. Sau khi bọc các hạt nano kim loại bằng lớp vỏ điện môi, chúng có thể được sử dụng trong các môi trường dung môi khác nhau. Độ dày của lớp vỏ silica trong suốt có thể được kiểm soát trong quá trình tổng hợp.
Việc thay đổi độ dày của lớp silica và chỉ số khúc xạ của dung môi cho phép kiểm soát thuộc tính quang học thông qua độ phân tán. Với việc tăng độ dày của lớp vỏ silica lên tới một kích thước nhất định, cường độ của dải plasmon tăng và đỉnh hấp thụ sẽ dịch chuyển về phía bước sóng dài hơn (redshift) do chỉ số khúc xạ cục bộ tăng xunh quanh hạt. Tuy nhiên, khi kích thước của cấu trúc vượt lên trên 80 nm, hiện tượng tán xạ trở nên đáng kể, tạo nên một sự gia tăng mạnh trong phổ hấp thụ của các bước sóng ngắn hơn (blue-shift) tương tự như đặc điểm của hạt nano vàng không có lớp vỏ silica. Kết quả tương tự đối với các lớp phân tử sinh học, hoặc polymer được hấp thụ lên bề mặt của các hạt nano kim loại.
Lớp vỏ polymer cũng sẽ làm thay đổi các thông số hình học, điện môi của hạt [23]. Một loại hạt nano composite khác có cấu trúc vỏ kim loại bọc xung quanh một lõi điện môi. Thuộc tính quang học của những hạt nano silica đơn phân tán (còn gọi là các hạt Stöber [55]) có thể bị ảnh hưởng bởi việc bọc xunh quanh một lớp vỏ kim loại mỏng và đồng đều. Khi giữ nguyên kích thước của lõi điện môi, sự dịch chuyển của hấp thụ quang tương đối nhạy với độ dày của lớp vỏ.
Hạt nano từ tính Các hạt nano từ hầu hết là các hợp chất của oxit sắt (Fe3O4 /magnetite Fe2O3 /maghemite) do đó không phải là những hạt kim loại nguyên chất. Tuy nhiên chúng là một trong những công cụ mạnh mẽ và hiệu quả nhất trong sinh học và y học. Có hai loại hạt nano từ tính: (1) các đầu magnetic chứa các hạt nano oxit sắt được bọc bởi mạng lưới polymer-silica và (2) các hạt oxit kim loại nguyên chất trong một dải nm. Các hạt oxit sắt ferromagnetic phân tán đơn domain được gọi là chất lỏng từ và có thể được sử dụng trong các ứng dụng sinh học nếu nó có tính hợp sinh cao.
Việc biến tính các đầu magnetic hoặc hạt nano, cho phép chúng có thể gắn với protein hoặc DNA và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do đó, sử dụng trong các ứnh dụng phát hiện, chẩn đoán và là tiềm năng trong việc ứng dụng chế tạo các công cụ chẩn đoán và chữa trị hiện đại, ví dụ như trong nhiệt trị tế bào ung thư [58] mà chỉ có các hạt nano từ tính hợp sinh học mới có thể được sử dụng. Hoặc việc sử dụng các hạt nano từ tính và các đầu từ (magnetic bead) làm tác nhân làm mạnh ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI) cũng như phát hiện các phân tử sinh học bằng các sensor từ tính. Một ứng dụng khác có thể kể đến là việc tách chiết các phân tử sinh học sử dụng hạt nano từ tính là một trong những kỹ thuật trong các phòng thí nghiệm đang được chuẩn hóa trên toàn thế giới vì ưu điểm tiện lợi, nhanh và rẻ tiền. Ho và các cộng sự (2010) sử dụng các hạt từ tính gắn kháng thể như một đầu dò ái lực hiệu quả cho việc làm giàu có chọn lọc các vi khuẩn từ mẫu dung dịch lỏng [16].
Chấm lượng tử Chấm lượng tử là những cấu trúc nano tinh thể có thể phát xạ khi bị kích thích trong một dải tần số ánh sáng nào đó. Các loại chấm lượng tử có cấu trúc nano như CdSe, CdS, CdTe trong khoảng 200- 10,000 nguyên tử, đặc điểm nổi bật của chấm lượng tử là thể hiện đặc tính quang học phụ thuộc mạnh vào kích thước và tính chất điện tử [2].