MỞ ĐẦU 1. Tên luận văn Nghiên cứu chế tạo bê tông cường độ cao sử dụng cốt liệu xỉ thép. Lý do chọn đề tài Cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tốc độ phát triển của ngành xây dựng cũng không ngừng tăng nhanh, với hàng loạt các công trình xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu cơ sở vật chất. Bên cạnh sự phát triển của ngành xây dựng ngành công nghiệp luyện kim cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu kịp thời của ngành xây dựng.
Do đó các phế thải của ngành luyện kim ngày càng nhiều, và trở thành một vấn đề môi trường cho xã hội. Mặt khác với số lượng công trình ngày càng nhiều nên nhu cầu về nguyên liệu như cát, đá cũng tăng lên đáng kể. Hiện nay, theo một số khảo sát cho thấy nguồn nguyên liệu cát, đá tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức dẫn đến thiếu nguồn nguyên liệu. Đứng trước tình hình đó chính phủ đã đưa ra chủ trương ưu tiên cho việc tái chế tái sử dụng và xử lý chất thải rắn nhằm giảm thiểu khối lượng chất thải vừa hạn chế ô nhiễm môi trường vừa hạn chế việc khai thác cát, đá thiên nhiên.
Vì vậy, việc tận dụng xỉ thép làm nguồn nguyên liệu thay thế cát đá trong sản suất bê tông là vô cùng cần thiết. Đây chính là các lý do để tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu chế tạo bê tông cường độ cao sử dụng cốt liệu xỉ thép”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu khả năng thay thế cốt liệu lớn và nhỏ trong bê tông bằng xỉ thép, sự ảnh hưởng của xỉ thép các tính chất của hỗn hợp bê tông và bê tông cường độ cao, đến cường độ của bê tông trong điều kiện dưỡng hộ khác nhau. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu tổng quan về các nghiên cứu và ứng dụng có liên quan đến việc sử dụng xỉ thép làm cốt liệu cho bê tông.
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài. - Nghiên cứu các tính chất của nguyên liệu sử dụng để chế tạo bê tông cường độ cao sử dụng xỉ thép. 1 - Khảo sát các tính chất của hỗn hợp bê tông và bê tông cường độ cao: độ sụt, khối lượng thể tích, độ hút nước, thể tích lỗ rỗng, sự phát triển cường độ của bê tông dùng cốt liệu xỉ thép trong các điều kiện dưỡng hộ khác nhau, ảnh hưởng của xỉ thép đến độ co ngót của bê tông. Đối tượng nghiên cứu 5.
Đối tượng nghiên cứu Hỗn hợp bê tông và bê tông cường độ cao sử dụng cốt liệu xỉ thép. Phạm vi nghiên cứu - Ảnh hưởng của xỉ thép đến độ lưu động của hỗn hợp bê tông cường độ cao. - Ảnh hưởng của xỉ thép đến khối lượng thể tích của bê tông cường độ cao. - Ảnh hưởng của xỉ thép đến độ hút nước và thể tích lỗ rỗng hở của bê tông cường độ cao.
- Ảnh hưởng của xỉ thép đến cường độ của bê tông cường độ cao trong điều kiện bảo dưỡng khác nhau. - Ảnh hưởng của xỉ thép đến Mô-đun đàn hồi của bê tông cường độ cao. - Ảnh hưởng của xỉ thép đến độ co ngót của bê tông cường độ cao. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực nghiệm, đánh giá dựa trên các phương pháp thử tiêu chuẩn theo quy định trong các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, TCXDVN, TCN) cũng như quốc tế (ASTM, ACI…).
Sử dụng một số phương pháp phi tiêu chuẩn thường được sử dụng trong nghiên cứu vật liệu xây dựng để xác định các tính chất kỹ thuật của các mẫu vật liệu. Cơ sở khoa học và thực tiễn - Làm đặc vữa xi măng, giảm lượng nước thừa (tỷ lệ N/X nhỏ) sử dụng phụ gia siêu dẻo. - Gia tăng của vùng chuyền bề mặt (hồ xi măng - cốt liệu): dưỡng hộ trong cấu trúc cốt liệu cung cấp nước tăng bám dính vùng liên kết, bề mặt cốt liệu xỉ thép có tính chất nhám ráp. - Sử dụng các kết quả nghiên cứu của PGS.TS Trần Văn Miền – Đại học Bách Khoa Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.
Kết quả đạt được Xỉ thép được phân tích tính chất cơ lý và hóa học, sau đó, xỉ thép được sử dụng để thay thế 100% lần lượt cốt liệu lớn và nhỏ trong bê tông cường độ cao cho cường độ nén 60MPa và 70MPa. Kết quả cho thấy bê tông cường độ cao cốt liệu xỉ thép có độ hút nước nhỏ, có khối lượng thể tích lớn hơn bê tông cốt liệu cát đá thông thường. Thêm vào đó, cường độ của bê tông sử dụng xỉ thép trong điều kiện để khô ngoài không khí tương đương khi dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn (ngâm trong nước), tiềm năng gây nứt của bê tông sử dụng cốt liệu xỉ thép thấp hơn so với bê tông sử dụng cốt liệu cát đá thông thường. Giới thiệu về xỉ thép [1] 1.
Quá trình hình thành Xỉ thép là sản phẩm phụ trong ngành công nghiệp luyện kim, là phế phẩm trong quá trình tinh chế kim loại không nguyên chất hoặc quá trình sản xuất kim loại từ quặng sắt. Các tạp chất sét và cát thường có trong quặng sắt, vì vậy, một hàm lượng đá vôi thích hợp nhất định thường được cho vào cùng với quặng sắt vào lò nung khi sản xuất. Trong quá trình nung giữa quặng sắt và đá vôi có phản ứng tạo thành các hợp chất silicat canxi, silicat alumin và silicat aluminate canxi magie. Các hợp chất nóng chảy hoàn toàn ở nhiệt độ cao.
Các hợp chất nóng chảy này có khối lượng riêng nhỏ hơn so với gang nổi lên trên, được tháo ra ngoài, được gọi là xỉ.1 dưới đây là hình ảnh bãi xỉ của Công ty TNHH Vật liệu xanh. Bãi xỉ của Công ty TNHH Vật liệu xanh Trên thế giới hiện nay, thép được sản xuất bằng hai công nghệ chính: Công nghệ lò cao đúc liên tục và công nghệ lò điện hồ quang. Phần lớn thép được sản xuất ở trong nước bằng công nghệ lò điện hồ quang - đúc liên tục. Nguyên liệu sử dụng trong lò hồ quang điện là sắt, thép và các phế liệu để luyện thép.
Người ta sử dụng một số chất trợ dung và vôi để đưa vào lò luyện kim loại, mục đích để tách các tạp chất có trong vật liệu kim loại đầu vào, khi luyện thép đến nhiệt độ trên 4 1600°C thép đầu vào sẽ nóng chảy nằm ở dưới và xỉ thép sẽ nổi lên trên. Xỉ thép sẽ được tháo ra khỏi lò và được làm nguội sau đó được chuyển đến bãi chứa xỉ để xử lý, tái chế. Quy trình sản xuất xỉ thép của lò hồ quang điện được mô tả như hình 1. Quy trình sản xuất xỉ thép lò điện hồ quang [33] 5 Sản phẩm xỉ thép sau khi được xử lý và phân loại được xem là đá nhân tạo với nhiều kích thước khác nhau, phục vụ cho các mục đích khác nhau.
Nhà máy sử dụng công nghệ S3R (Stainless Steel Scrap Recovery) của Hofung Technology Co. Công nghệ này chủ yếu tách sắt trong xỉ thép có chứa nhiều sắt. Đặc điểm [1] Xỉ thép có màu xám đen, khối lượng thể tích lớn hơn so với đá tự nhiên và xỉ lò cao. Chúng có khả năng nở do chứa vôi, oxýt magiê tự do trong thành phần.
Chất lượng và khối lượng thể tích, mức độ nở của xỉ thép khác nhau tùy thuộc vào nhà máy thép và quy trình tinh luyện thép. Xỉ thép có đặc tính cơ lý được so sánh bằng và tốt hơn cốt liệu tự nhiên. Do đó, xỉ thép được nghiên cứu để thay thế các cốt liệu có nguồn gốc tự nhiên như cát, đá nhằm vệ môi trường và tiết kiệm nguyên liệu.3 dưới đây mô tả hình dạng và kích thước lỗ rỗng bê trong cốt liệu xỉ thép. a) Hình dạng xỉ thép b) Lỗ rỗng trong xỉ thép Hình 1.
Hình dạng và kích thước lỗ rỗng bê trong cốt liệu xỉ thép [1] Xỉ thép được xử lý qua nghiền sàng thành các cỡ hạt khác nhau tương tự như với cốt liệu lớn và nhỏ trong bê tông. Xỉ thép trước đây được xem như một loại phế thải, mất nhiều chi phí để xử lý. Nhưng bây giờ xỉ thép được coi là nguyên liệu đầu vào cho sản phẩm khác, đặc biệt dùng cho lĩnh vực xây dựng, hạ tầng. Phân loại Xỉ thép phân làm hai loại chính là xỉ lò hồ quang điện (EAF) và xỉ lò thổi (BOF): Xỉ lò hồ quang điện (EAF): lò hồ quang điện sử dụng điện cực để làm tăng nhiệt độ nhằm nung chảy và tinh luyện nguyên liệu (thép phế, gang cục).
Xỉ lò 6 hồ quang điện được chở ra bãi và làm nguội chậm bằng không khí tự nhiên. Một tấn thép khi tinh luyện thải ra khoảng 100-150kg xỉ. Xỉ lò thổi (BOF): Xỉ lò thổi được tạo ra trong quá trình luyện thép trong lò thổi. Gang tạo ra từ lò cao, có tính cứng và dòn do chứa các tạp chất như C, Si, Mn, P.
Xỉ lò thổi được làm nguội chậm bằng không khí tự nhiên, hoặc phun nước tại bãi chứa. Một tấn thép khi tinh luyện thải ra khoảng 100-150kg xỉ. Trong nghiên cứu này lấy xỉ thép từ lò hồ quang điện tại nhà máy của Công ty TNHH Vật liệu xanh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thành phần hóa của xỉ thép EAF [8] Xỉ thép thường chứa thành phần chủ yếu là canxi oxit (CaO), oxit (Fe2O3) và silic oxit (SiO2).
Xỉ thép lò thổi chứa thêm các thành phần khác là magiê oxit (MgO) và mangan oxit (MnO). Thành phần khoáng của xỉ thép EAF [8] Các nghiên cứu cho thấy thành phần kháng của xỉ thép EAF gồm nhiều khoáng khác nhau, cụ thể như sau: W: Wustite (FeO); CS: Calcium Silicates (2CaO.SiO2,C2S và 3CaO.SiO2, C3S); B: Brownmillerite (Ca2(Al,Fe)2O5, C4AF); M: Mayenite (12CaO.7Al2O3,C12A7); P: Khe rỗng và thép. Khoáng CS trong xỉ thép là loại khoáng chất có trong thành phần khoáng của xi măng Portland, hợp chất khoáng bao gồm Tricalcium Silicate (C3S), Tricalcium Aluminate (C3Al), Dicalcium Silicate (C2S). Ứng dụng của xỉ thép trong xây dựng [8] Theo thống kê ở châu Âu 85% lượng xỉ BOS (Basic Oxygen Steelmaking slag) đã được tái sử dụng với nhiều mục đích khác nhau trong đó 42% được ứng dụng trong xây dựng.
Còn ở Đức trong số 70% lượng xỉ EAF (Electric Arc Furnace slag) thì 66% được ứng dụng trong xây dựng còn lại 4% ứng dụng cho các mục đích khác nhau. Trong lĩnh vực xây dựng xỉ được sử dụng chủ yếu làm cốt liệu cho bê tông và phụ gia khoáng chế tạo bê tông xi măng. Theo thống kê tại Nhật Bản, lượng xỉ thép được thải ra cho một tấn thép là 130kg và đối với sản xuất gang là 290kg.