Nghiên Cứu Mô Hình Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Trọng Tốc Độ Cao Tại HCMUTE

Tài liệu nghiên cứu Hcmute nghiên cứu lập mô hình thí nghiệm bê tông chịu nén dưới tải trọng tốc độ cao, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Khoa Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài

2020

67
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1.1. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

1.3. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.4. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do thực hiện đề tài

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.2.1. Ý nghĩa khoa học

1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA THIẾT BỊ HOPKINSON

2.1. Dao động dọc trục trong thanh

2.2. Sự lan truyền sóng trong thanh

2.3. Tính toán ứng suất, biến dạng và tốc độ biến dạng trong mẫu thử

3. MÔ PHỎNG THIẾT BỊ HOPKINSON VỚI ABAQUS

3.1. GIỚI THIỆU ABAQUS

3.2. Mô phỏng thiết bị Hopkinson với Abaqus

3.3. Kết quả phân tích

3.4. Kết luận chương

4. MÔ PHỎNG THIẾT BỊ HOPKINSON VỚI LS-DYNA

4.1. Giới thiệu LS-DYNA

4.2. Ứng dụng LS-DYNA mô phỏng thiết bị Hopkinson

4.3. Kết quả phân tích

4.4. Kết luận chương

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Mô hình thí nghiệm bê tông chịu nén tại HCMUTE

Nghiên cứu này tập trung vào việc lập mô hình thí nghiệm bê tông chịu nén dưới tải trọng tốc độ cao tại HCMUTE. Công trình sử dụng phần mềm mô phỏng Abaqus/LS-DYNA để tái tạo thiết bị thí nghiệm Hopkinson (Split Hopkinson Pressure Bar - SHPB), thay thế cho việc xây dựng thiết bị vật lý đắt đỏ và tốn diện tích. Mô hình thí nghiệm này nhằm mục đích nghiên cứu ứng xử của bê tông dưới tác động của tải trọng tốc độ cao, cung cấp dữ liệu thiết kế chính xác hơn cho các công trình chịu tải động, đặc biệt trong bối cảnh các mối đe dọa như khủng bố.

1.1 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phần này trình bày cơ sở lý thuyết về thí nghiệm vật liệu dưới tải trọng tốc độ cao, tập trung vào nguyên lý hoạt động của thiết bị Hopkinson. Phương pháp nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu lý thuyết về truyền sóng trong thanh, phân tích xung ứng suất và biến dạng, và đặc biệt là mô phỏng số bằng Abaqus/LS-DYNA. Việc sử dụng phần mềm mô phỏng cho phép tối ưu hóa thiết kế thí nghiệm, giảm chi phí và thời gian. Nghiên cứu cũng đề cập đến các vấn đề kỹ thuật như hiệu chỉnh sự phân tán sóng trong thanh, ảnh hưởng của ma sát, và độ chính xác của dữ liệu đo được. Các công thức tính toán ứng suất, biến dạng, và tốc độ biến dạng trong mẫu thử được trình bày chi tiết. Tính chất cơ lý của bê tông dưới tải trọng tốc độ cao là trọng tâm nghiên cứu. Nghiên cứu bê tông với tải trọng động là vấn đề cấp thiết trong xây dựng hiện đại.

1.2 Mô phỏng thiết bị Hopkinson bằng Abaqus LS DYNA

Phần này tập trung vào quá trình mô phỏng thiết bị Hopkinson sử dụng phần mềm Abaqus/LS-DYNA. Mô hình bao gồm các tham số vật liệu, điều kiện biên, và phân tích phần tử hữu hạn. Kết quả mô phỏng cung cấp thông tin về ứng suất, biến dạng, và tốc độ biến dạng của mẫu bê tông dưới tác động của tải trọng nén tốc độ cao. Phân tích kết quả mô phỏng nhằm mục đích xác định ứng xử động lực của bê tông và đánh giá độ tin cậy của mô hình số. Mô phỏng thiết bị Hopkinson là một giải pháp hiệu quả để nghiên cứu chịu lực bê tông trong điều kiện tải trọng động. Nghiên cứu này cũng đề cập đến việc so sánh kết quả mô phỏng với kết quả thực nghiệm (nếu có) để đánh giá độ chính xác của mô hình. Phần mềm Abaqus/LS-DYNA được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học vật liệukỹ thuật xây dựng.

1.3 Phân tích kết quả và ứng dụng thực tiễn

Phần này trình bày phân tích kết quả thí nghiệm, bao gồm biểu đồ ứng suất-biến dạng, đường cong ứng suất-thời gian, và tốc độ biến dạng. Phân tích kết quả giúp làm rõ ảnh hưởng của tốc độ tải trọng đến độ bền nén của bê tông. Nghiên cứu này cũng đánh giá giới hạn bền của bê tông dưới tác động của tải trọng tốc độ cao. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu bao gồm cung cấp dữ liệu cho thiết kế các công trình chịu tải trọng động như cầu, nhà cao tầng, và các công trình chịu va chạm. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiểu biết về tính chất cơ lý động lực của bê tông, từ đó hỗ trợ việc thiết kế an toàn và hiệu quả các công trình xây dựng. Nghiên cứu này cũng có thể mở rộng cho các loại vật liệu khác ngoài bê tông. Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUTE) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu này.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Thiết kế kết cấu chủ yếu là sử dụng các thông tin của vật liệu dưới dạng quan hệ ứng suất-biến dạng. Để thiết kế được tối ưu, các thông tin này càng phải chính xác. Hiện nay, các thông tin này thường được thu thập bằng các thí nghiệm mẫu thử với tốc độ gia tải rất chậm. Theo Shigley và Mitchell [1], “tốc độ gia tải trung bình được sử dụng để có được biểu đồ ứng suất-biến dạng bé hơn 10-3 s-1.

Khi tốc độ gia tải càng tăng, chẳng hạn tải va chạm, thì vật liệu sẽ có cường độ cao hơn. Công trình dưới tải va chạm sẽ có ứng xử thế nào, mô hình vật liệu của nó ra sao, vì thế, đã gây được nhiều hứng thú cho nhiều kỹ sư thiết kế cũng như cho các nhà nghiên cứu. Thí nghiệm với thiết bị Hopkinson là phương pháp thông dụng nhất hiện nay để xác định tính chất của vật liệu với tải trọng tốc độ cao vì kỹ thuật này cho kết quả chính xác và độ tin cậy cao. Thiết bị này có thể gây ra tải trọng với tốc độ biến dạng 104 s-1 một cách dễ dàng [2].

Thiết bị Split Hopkinson Pressure Bar (SHPB) đường kính 75 mm TS. Trần Tuấn Kiệt| Nghiên Cứu Chế Tạo Thiết Bị Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Tốc Độ Cao Luan van Trang 2 Trong thí nghiệm này, mẫu thử trụ tròn được kẹp giữa 2 thanh dài, như trong Hình 0. Các thanh này thường được làm từ thép cường độ cao với đường kính từ 20mm và chiều dài từ 2m tùy theo kích thước mẫu thí nghiệm. Sơ đồ làm việc của thiết bị Hopkinson Các đầu thanh và mẫu thử được mài phẳng và được kẹp giữa như mô tả.

Một thanh strike (striker bar) được phóng vào đầu thanh incident (incident bar) làm phát sinh một xung ứng suất nén. Ngay sau va chạm, xung này sẽ chạy dọc thanh truyền đến mặt tiếp giáp giữa thanh incident và mẫu thử, và rồi một phần xung này phản xạ chạy ngược trở lại trong thanh incident, một phần khác truyền qua mẫu thử đi vào thanh transmitted (transmitted bar). Theo nguyên tắc truyền sóng, xung phản xạ trong thanh incident là xung kéo, còn xung truyền vào thanh transmitted là xung nén. Các lịch sử biến dạng (strain histories) trong 2 thanh nhập và xuất được ghi lại bằng hai cảm biến A và B.

Quan hệ ứng suất-biến dạng, tốc độ biến dạng của mẫu thử sẽ được tính toán trên cơ sở dữ liệu của cảm biến A và B miễn là các thanh incident và transmitted được đảm bảo làm việc trong giai đoạn đàn hồi. Chỉ cần ghi nhận hai xung quan trọng, một là xung phản xạ và hai là xung truyền qua mẫu thử, Kolsky [4] đã tìm được ứng suất trong mẫu thử qua quan hệ sau đây: (1) trong đó E và Ao là mô đun đàn hồi và tiết diện của các thanh, A là tiết diện ngang của mẫu thử, εT(t) là lịch sử biến dạng truyền (transmitted strain history). Trần Tuấn Kiệt| Nghiên Cứu Chế Tạo Thiết Bị Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Tốc Độ Cao Luan van Trang 3 Tốc độ biến dạng của mẫu thử có thể được tính từ: (2) trong đó εR(t) là lịch sử biến dạng phản xạ trong thanh nhập, L là chiều dài ban đầu của mẫu thử, và Co là vận tốc sóng (wave velocity) trong thanh nhập được cho bởi: (3) với E và ρ là mô đun đàn hồi và mật độ của các thanh. Phương trình (1.2) có thể được tích phân để có biến dạng của mẫu thử: (4) Mặc dù các phương trình này được phát triển từ khoảng thập niên 40, nhưng chúng chỉ được phổ biến rộng rãi vào các thập kỷ cuối của thế kỷ trước vì chỉ khi ấy các kỹ thuật xử lý dữ liệu mới có thể xử lý được nhờ vào các máy tính tốc độ cao [2].

Sự phức tạp của bài thí nghiệm này nằm ở chỗ lý thuyết truyền sóng và kỹ thuật xử lý số liệu. Như đã trình bày ở phần trước, các xung phản xạ và xung truyền xuất hiện trong thí nghiệm là các xung phụ thuộc theo thời gian. Đối với mẫu đồng chất, độ lớn (amplitude) của 2 xung này tỷ lệ tương ứng với tốc độ biến dạng và ứng suất trong mẫu thử. Vì biến dạng của mẫu thử được tính bằng cách tích phân tốc độ biến dạng, nên dễ dàng tìm được các biểu đồ ứng suất-thời gian và biến dạng-thời gian.

Tuy thế, chúng không hữu dụng và quen thuộc lắm so với biểu đồ ứng suất-biến dạng động lực (dynamic stress-strain diagram), chính là sự kết hợp của 2 biểu đồ trên. Cách đơn giản là dóng 2 biểu đồ đó theo một điểm khởi đầu tạm nào đó. Vốn dĩ sự kiện va chạm là một sự kiện xảy ra với vài mili giây (ms), nên thật khó có thể có 2 điểm dóng đầu tiên chính xác được như mong muốn. Đây chính là điểm khó khăn đầu tiên của bài thí nghiệm này.

Trần Tuấn Kiệt| Nghiên Cứu Chế Tạo Thiết Bị Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Tốc Độ Cao Luan van Trang 4 Điểm khó khăn thứ hai chính là sự phân tán của sóng truyền trong thanh, làm ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Hầu hết các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp của Bancroft [3] để có thể dự đoán và hiệu chỉnh được mức độ phân tán của các sóng này. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Trong nước, lĩnh vực nghiên cứu này vẫn còn tương đối mới mẽ, vì thế số lượng nghiên cứu không nhiều. Tìm trên mạng, chỉ thấy hai công trình có liên quan xa gần đến lĩnh vực này.

Công trình đầu tiên là luận án tiến sĩ kỹ thuật của Đặng Văn Kiên [5], “nghiên cứu ảnh hưởng của chấn động nổ mìn khi thi công đường hầm đến kết cấu công trình ngầm lân cận”. Luận án đã thực hiện thí nghiệm động SHPB và mô phỏng số để xác định các thông số của khối đá và vỏ chống; tìm ra các mối quan hệ giữa ứng suất, biến dạng, tốc độ biến dạng theo thời gian của kết cấu chống giữ dưới tác dụng của ải trọng động giống như áp lực nổ mìn trên thực tế. Công trình thứ hai là của nhóm tác giả Lê Bá Danh và nhóm cộng sự [6], công bố trên Tạp chí Khoa học Công Nghệ Xây Dựng năm 2019. Bài báo trình bày “nghiên cứu thực nghiệm khả năng chịu tác động tải trọng nổ của vật liệu bê tông chất lượng siêu cao (UHPC)”.

Tải trọng nổ sử dụng là thuốc nổ nhũ tương. Sự hư hại và phá hủy ở mặt trên, mặt dưới của các mẫu thí nghiệm và thành phần hạt của các mảnh vỡ bắn ra dưới tác động của tải trọng nổ được phân tích và so sánh giữa bê tông UHPC và bê tông thường. CÁC NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC Nghiên cứu về ứng xử của vật liệu dưới tác động của tải trọng tốc độ cao xuất hiện từ rất sớm trên thế giới. Thiết bị đầu tiên (Hình 0.3) rất nổi tiếng để thí nghiệm ứng xử kéo của vật liệu là do John Hopkinson [7] đề xuất năm 1872 và sau đó, năm 1914, con ông ta Bertram Hopkinson đã giới thiệu một kỹ thuật khác (Hình 0.4) để xác định quan hệ lực nén-thời gian do một va chạm phát ra từ một viên đạn hoặc từ một vụ nổ.

Trần Tuấn Kiệt| Nghiên Cứu Chế Tạo Thiết Bị Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Tốc Độ Cao Luan van Trang 5 Hình 0. Thiết bị của John Hopkinson [7, 8] Đến năm 1941, Dennison Bancroft [3] giải phương trình tần số của Pochhammer và Love để tìm vận tóc sóng trong các thanh trụ tròn. Bancroft biểu diễn vận tốc sóng dưới dạng chiều dài sóng, hệ số Poisson, và tỷ số của đường kính thanh với chiều dài sóng. Lợi ích của nghiên cứu này – như được đưa vào ứng dụng trong kỹ thuật Hopkinson – đã không được nhận thức đầy đủ cho đến khi công cụ xử lý dữ liệu nhờ máy tính phát triển mạnh mẽ.

Công trình của Bancroft đã thúc đẩy mảng nghiên cứu về hiệu chỉnh sự phân tán sóng truyền. Thiết bị của Bertram Hopkinson [8] TS. Trần Tuấn Kiệt| Nghiên Cứu Chế Tạo Thiết Bị Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Tốc Độ Cao Luan van Trang 6 Bảy năm sau, năm 1948, Davies đã phát triển kỹ thuật sử dụng các cảm biến để đo các biến dạng trong các thanh nén (Hình 0. Các dữ liệu xuất ra từ cảm biến sẽ tỷ lệ với quan hệ chuyển vị-thời gian và cũng tỷ lệ với quan hệ ứng suất-thời gian.

Dùng các cảm biến để đo biến dạng là một cái tiến quan trọng để đạt được độ chính xác so với thiết bị gốc của Hopkinson, vốn dựa vào sự đo đạt về động lượng của viên bi thép bay chạm vào đầu thanh nén. Thiết bị của Davies [8] Sau đó 1 năm, năm 1949, Kolsky thêm vào 1 thanh nén thứ 2 vào thiết bị gốc của Hopkinson, vì vậy có tên là thanh chia Hopkinson (Split Hopkinson bar). Thay vì gắn mẫu vào đầu xa của thanh, Kolsky đã kẹp mẫu vào giữa 2 thanh (Hình 0. Ông đã giới thiệu các biểu thức để tính toán tính chất của mẫu dựa trên các lịch sử biến dạng trong thanh.

Các biến dạng được đo bằng các kỹ thuật tương tự như của Davies. Dĩ nhiên thiết bị 2 thanh mới đòi hỏi các đo đạc cho cả 2 thanh. Kỹ thuật 2 thanh này trở nên kỹ thuật sử dụng rộng rãi nhất cho tới hôm nay. Trong một số tài liệu, Thanh Hopkinson cũng được gọi là thanh Kolsky.

Kể từ đó, thiết bị Hopkinson đã nhanh chóng trở thành một thiết bị được sử dụng rộng rãi để thí nghiệm các vật liệu dưới tải trọng tốc độ cao [8]. Trần Tuấn Kiệt| Nghiên Cứu Chế Tạo Thiết Bị Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Tốc Độ Cao Luan van Trang 7 Mục đích của nghiên cứu này là 1) tìm hiểu chi tiết về thiết bị này, rồi 2) tiến hành dùng Abaqus để mô phỏng thiết bị, để từ đó 3) đưa ra một vài thông tin về ứng xử của bê tông dưới tải trọng nén tốc độ cao. Thiết bị Hopkinson (SHPB) hay còn gọi là thiết bị Kolsky [8] C. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Hình 0.

Khủng bố ở Mỹ ngày 11/9/2001 Thế giới ngày nay đang đối diện với nạn khủng bố, nhất là sau sự kiện 11/9, giới xây dựng luôn đau đáu về giải pháp tìm kiếm vật liệu thích hợp để có thể chịu được các tải trọng va chạm tốc độ cao. Trong khi ấy, bê tông là một vật liệu xây dựng được sử dụng TS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Mô Hình Thí Nghiệm Bê Tông Chịu Nén Dưới Tải Trọng Tốc Độ Cao Tại HCMUTE" trình bày một nghiên cứu quan trọng về khả năng chịu nén của bê tông dưới tải trọng cao, một yếu tố thiết yếu trong thiết kế và thi công các công trình xây dựng hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về tính chất vật liệu bê tông mà còn cung cấp những thông tin quý giá cho các kỹ sư và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các ứng dụng và công nghệ liên quan đến bê tông, bạn có thể tham khảo bài viết "Hcmute nghiên cứu tính toán cấu kiện bê tông cốt thép theo tiêu chuẩn châu âu", nơi bạn sẽ tìm thấy những tiêu chuẩn thiết kế hiện đại cho bê tông cốt thép. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ hcmute nghiên cứu ứng dụng mạng nơ ron nhân tạo để dự đoán ứng xử của bê tông trong thí nghiệm nén một trục" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong việc dự đoán hành vi của bê tông. Cuối cùng, bài viết "Luận án nghiên cứu bê tông xi măng sử dụng phụ gia nano sio2 và silica fume trong kết cấu mặt dường ô tô khu vực miền tây nam bộ" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng phụ gia trong bê tông để cải thiện chất lượng và độ bền của các công trình giao thông.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn giúp bạn áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn trong ngành xây dựng.